Điện Càn Thành là nơi ăn ở, lưu trú của các vua nhà Nguyễn. Trước năm 1811, điện Càn Thành còn có tên là điện Trung Hòa nằm trong Tử Cấm thành (Huế). Tuy nhiên hiện nay công trình này đã trở thành phế tích sau năm 1945.
Điện Càn Thành nằm sau điện Cần Chánh-nơi vua thiết triều, phía trước điện Khôn Thái-là chỗ ở của Hoàng Quý Phi. Phía trước điện, bên phải có điện Trinh Minh là nơi ở của các bà phi, bên trái có điện Quang Minh là nơi ở của Đông cung hoàng tử.
Bên phải, ở khoảng giữa điện Càn Thành và cung Khôn Thái là viện Thuận Huy- là chỗ ở các bà Tân. Phía Tây viện Thuận Huy là viện Đoan Huy, Đoan Thuận, Đoan Hoà, Đoan Trang và Đoan trường- là chỗ ở của các bậc Tiệp dư, Tài nhân, Mỹ nhân, Quý nhân cùng những tài nhân vị nhập giai, các viện trên gọi là "lục viện".
Bên phải điện Càn Thành là một vườn ngự uyển, trong đó có điện Minh Thận, hồ Quang Văn, gác Tứ Phương Vô Sự, lầu Nhật Thành...đều làm năm Thiệu Trị thứ nhất và bị triệt giải vào triều vua Thành Thái.
Trước điện có một sân rộng, giữa có đường dũng đạo lát đá, trước sân có một ao sen và một tấm bình phong.
Friday, May 8, 2015
Wednesday, May 6, 2015
Một đêm trên phá Tam Giang
Du Lịch Huế - Từ thành phố Huế, xuôi theo Quốc lộ 49B chừng 15km đến thị trấn Thuận An, bạn sẽ được đắm mình trước khung cảnh mênh mang sông nước của phá Tam Giang.
Với chiều dài khoảng 24km, khởi nguồn từ cửa sông Ô Lâu, hòa mình với dòng sông Hương hiền hòa trước khi đổ ra cửa biển Thuận An, Tam Giang là một trong những con phá lớn nhất Đông Nam Á. Phá đẹp khi khoác lên mình màu áo của ánh chiều tà như ôm cả bầu trời mây tím thẫm vào lòng nước. Chẳng thế mà mỗi du khách đến đây đều muốn dạo thuyền để đắm mình giữa mênh mang trời nước và thưởng ngoạn vẻ lãng mạn nên thơ. Sẽ là một trải nghiệm đầy thú vị nếu bạn được một lần ngủ lại trên con phá này, cảm nhận bầu không khí trong lành và thưởng thức những sản vật thiên nhiên ban tặng.
Nằm nơi cuối nguồn phá Tam Giang, khu đầm ven thị trấn Thuận An như hội tụ những tinh túy nhất của 3 con sông Ô Lâu, sông Bồ và sông Hương trước khi đổ ra biển Đông. Đa phần người dân nơi đây sống bằng nghề nuôi trồng thủy sản. Đêm xuống cũng là lúc những người dân trong làng đi thuyền ra khu đầm nhà mình, buông lưới, thả lừ đánh bắt thủy sản để đem bán sáng hôm sau. Mỗi khu đầm có một chòi, đủ cho 3-4 người sinh hoạt. Người dân nơi đây hiền hòa, chất phác và đặc biệt rất hiếu khách. Thậm chí chưa cần đặt vấn đề, họ đã mời bạn cùng du ngoạn sông nước vào buổi đêm và chiêu đãi những sản vật tinh túy nhất nơi phá Tam Giang.
Không gì thích thú bằng việc tự tay đánh bắt, tự tay chế biến các món ăn thủy sản còn tươi nguyên rồi tự thưởng thức vị ngọt đậm đà tự nhiên của các đặc sản vùng nước lợ. Ngồi trên thuyền giăng lưới, thả lừ rồi lên chòi nhâm nhi cốc bia Huda (thức uống phổ biến tại Huế), trò chuyện cùng bạn hữu trong khi chờ cho những chú tôm, cua, cá, ghẹ… mắc bẫy. Chỉ vài giờ sau là bạn đã có cả một rổ thủy sản tươi sống, đủ loại và thưởng thức bữa tiệc thịnh soạn ngay trên con phá thơ mộng.
Một điều đặc biệt là buổi tối khu đầm phá không có muỗi hay côn trùng. Ăn bữa tối, du thuyền trên phá lúc buổi đêm, cảm nhận cơn gió sông mát mẻ và thư thái trong khung cảnh yên tĩnh, mênh mang vùng sông nước chính là “món tráng miệng” thú vị mà chủ nhà dùng đãi khách. Có lẽ cũng bởi sự thiếu thốn của vùng sông nước mà hầu hết người dân nơi đây đều rất giỏi đàn hát. Tiếng đàn, lời hát giúp xua tan cái cảm giác cô đơn nơi sông nước bao la và như một cách để các chủ chòi trò chuyện với nhau giữa đêm khuya thanh vắng. Trong hơi men chếnh choáng, cả chủ và khách cùng thả hồn theo tiếng hò Huế ngọt ngào hòa lẫn âm thanh trong trẻo của tiếng cá quẫy mặt nước, tiếng sóng tí tách xô mạn thuyền… rồi chìm vào giấc ngủ lúc nào không hay. Trong giấc ngủ giữa bao la sông nước miên man lời hát: “Trên phá Tam Giang, anh chợt nhớ em, nhớ sao là nhớ…”.
Với chiều dài khoảng 24km, khởi nguồn từ cửa sông Ô Lâu, hòa mình với dòng sông Hương hiền hòa trước khi đổ ra cửa biển Thuận An, Tam Giang là một trong những con phá lớn nhất Đông Nam Á. Phá đẹp khi khoác lên mình màu áo của ánh chiều tà như ôm cả bầu trời mây tím thẫm vào lòng nước. Chẳng thế mà mỗi du khách đến đây đều muốn dạo thuyền để đắm mình giữa mênh mang trời nước và thưởng ngoạn vẻ lãng mạn nên thơ. Sẽ là một trải nghiệm đầy thú vị nếu bạn được một lần ngủ lại trên con phá này, cảm nhận bầu không khí trong lành và thưởng thức những sản vật thiên nhiên ban tặng.
Nằm nơi cuối nguồn phá Tam Giang, khu đầm ven thị trấn Thuận An như hội tụ những tinh túy nhất của 3 con sông Ô Lâu, sông Bồ và sông Hương trước khi đổ ra biển Đông. Đa phần người dân nơi đây sống bằng nghề nuôi trồng thủy sản. Đêm xuống cũng là lúc những người dân trong làng đi thuyền ra khu đầm nhà mình, buông lưới, thả lừ đánh bắt thủy sản để đem bán sáng hôm sau. Mỗi khu đầm có một chòi, đủ cho 3-4 người sinh hoạt. Người dân nơi đây hiền hòa, chất phác và đặc biệt rất hiếu khách. Thậm chí chưa cần đặt vấn đề, họ đã mời bạn cùng du ngoạn sông nước vào buổi đêm và chiêu đãi những sản vật tinh túy nhất nơi phá Tam Giang.
Không gì thích thú bằng việc tự tay đánh bắt, tự tay chế biến các món ăn thủy sản còn tươi nguyên rồi tự thưởng thức vị ngọt đậm đà tự nhiên của các đặc sản vùng nước lợ. Ngồi trên thuyền giăng lưới, thả lừ rồi lên chòi nhâm nhi cốc bia Huda (thức uống phổ biến tại Huế), trò chuyện cùng bạn hữu trong khi chờ cho những chú tôm, cua, cá, ghẹ… mắc bẫy. Chỉ vài giờ sau là bạn đã có cả một rổ thủy sản tươi sống, đủ loại và thưởng thức bữa tiệc thịnh soạn ngay trên con phá thơ mộng.
Một điều đặc biệt là buổi tối khu đầm phá không có muỗi hay côn trùng. Ăn bữa tối, du thuyền trên phá lúc buổi đêm, cảm nhận cơn gió sông mát mẻ và thư thái trong khung cảnh yên tĩnh, mênh mang vùng sông nước chính là “món tráng miệng” thú vị mà chủ nhà dùng đãi khách. Có lẽ cũng bởi sự thiếu thốn của vùng sông nước mà hầu hết người dân nơi đây đều rất giỏi đàn hát. Tiếng đàn, lời hát giúp xua tan cái cảm giác cô đơn nơi sông nước bao la và như một cách để các chủ chòi trò chuyện với nhau giữa đêm khuya thanh vắng. Trong hơi men chếnh choáng, cả chủ và khách cùng thả hồn theo tiếng hò Huế ngọt ngào hòa lẫn âm thanh trong trẻo của tiếng cá quẫy mặt nước, tiếng sóng tí tách xô mạn thuyền… rồi chìm vào giấc ngủ lúc nào không hay. Trong giấc ngủ giữa bao la sông nước miên man lời hát: “Trên phá Tam Giang, anh chợt nhớ em, nhớ sao là nhớ…”.
Sunday, May 3, 2015
Tam quan chùa Huế
Du Lịch Huế - Cổng tam quan được xem là bộ mặt của một ngôi chùa, bởi tam quan là cổng chính của tự viện. Chư Tăng, tín đồ và du khách ra vào tự viện đều phải qua cổng tam quan này. Do vậy cổng tam quan có ảnh hưởng vô cùng quan trọng đến đời sống tâm linh của các hành giả trong chùa và khách thập phương tín thí đến chùa lễ Phật.
Tam quan được xem như cửa ải giữa hai thế giới thánh phàm, tịnh nhiễm nhằm thanh lọc và bảo hộ tâm hồn của hành giả mỗi khi ra vào. Bởi vậy, người ta thường gọi cổng tam quan của nhà chùa là cửa Phật, cửa Tam bảo, cửa Thiền, cửa Từ bi, cửa Giải thoát (Tam giải thoát môn)...

Tam quan quốc tự Diệu Đế
Do vậy, trong bố cục kiến trúc tổng thể của một ngôi chùa xưa, chư Tổ thường đặc biệt quan tâm đến hạng mục kiến trúc cổng tam quan. Mỗi chiếc cổng tam quan xưa đều có sự phối hợp chặt chẽ giữa con người, cảnh vật và giáo lý giải thoát của nhà Phật để xây dựng nên nhằm giúp cho người bước vào luôn có cảm giác gần gũi, gạt bỏ ra ngoài những thị phi phiền muộn của thế gian ô trược, dọn lòng thanh tịnh trước khi vào lễ Phật bái tổ.

Tam quan chùa Từ Hiếu
Điển hình như một số cổng tam quan cổ rất đẹp còn được bảo lưu nguyên vẹn ở Huế mà mỗi lần bước chân vào người ta đều có cảm giác như đi vào “cửa thiền”. Đó là cổng tam quan chùa Báo Quốc, chùa Từ Hiếu, chùa Diệu Viên và cổng tam quan quốc tự Thiên Mụ, quốc tự Diệu Đế, quốc tự Thánh Duyên... Những chiếc tam quan của các chùa trên đều rất cổ, hầu hết được xây dựng từ thời các vua chúa nhà Nguyễn. Nét rêu phong trên những đường nét kiến trúc cổ kính đã đem lại cảm giác an lạc cho mọi người ngay từ khi bước chân vào cổng chùa. Kích thước chung mỗi kiến trúc tam quan cổ có chiều cao khoảng 7 đến 10m, chiều ngang khoảng hơn 8m, bề dày khoảng từ 2 đến 3m. Với kích thước như thế cổng tam quan còn có một chức năng tránh mưa nắng cho khách qua đường, đồng thời mỗi khi bước chân qua vòm cổng dày khoảng 2 đến 3m thấp lè tè có cảm giác như cạ ngang đầu làm cho mọi người có dịp cúi xuống để nhìn lại mình.

Tam quan chùa Báo Quốc
Cổng tam quan chùa Từ Hiếu, một kiểu tam quan xây dựng theo dạng thức cuốn vòm thượng lâu hạ cổng. Phần trên “lầu” dùng để tôn trí tượng Hộ Pháp, hai bên có hai lầu giả tô vẽ cảnh đẹp núi sông xứ Huế. Phần dưới có 3 vòm (tam quan) tượng trưng cho Tam bảo. Bước chân vào chiếc cổng tam quan này chúng ta liền thấy tâm hồn thanh thản. Cổng tam quan chùa Báo Quốc lại rất đồ sộ và cổ kính được xây bằng gạch có chiều cao 7,01m, chiều ngang 9,895m, chiều dày 2,54m, gồm 3 tầng tượng trưng cho Tam bảo mà không có phần lầu để thờ tượng Hộ Pháp. Tuy nhiên với kích thước cũng như cách trang trí chữ Hán và đường nét cổ kính, chiếc cổng cũng làm cho người ta có cảm giác nhẹ nhàng và thanh thoát khi bước vào.

Tam quan chùa Diệu Viên
Đặc biệt, cổng tam quan Thanh Trúc của chùa Diệu Viên lại được xây dựng theo lối cổng-động rất đặc trưng. Phía dưới chỉ một vòm cổng dẫn sâu hút vào chùa bằng một lối đi, phía trên là động Quán Âm, chất liệu gạch và vôi vữa nhưng bên ngoài dán đá để tạo ra một loại cổng hình hang động rất ấn tượng. Riêng tam quan của các ngôi quốc tự như Thiên Mụ, Diệu Đế, Thánh Duyên lại có một nét kiến trúc riêng có phần ảnh hưởng của lối kiến trúc cổng kinh thành Huế. Phần trên được kiến trúc theo kiểu vọng lâu dạng như nhà bia, bên dưới có 3 lối đi vào thiết kế theo hình khối vuông hay hình vòm. Phần mái vọng lâu của các cổng tam quan trên thường được lợp bằng ngói ống vàng hoặc xanh lưu li. Các bờ nóc, bờ quyết trang trí hình giao long cách điệu. Chính giữa thuyền nóc trang trí hình rồng chầu bánh xe pháp luân.

Tam quan quốc tự Thiên Mụ
Trên thân mỗi chiếc cổng tam quan được trang trí nhiều câu đối bằng chữ Hán nói lên lịch sử và cảnh đẹp của ngôi chùa cũng như những triết lý của nhà Phật cùng hoa văn rồng cuộn và hoa lá cành ghép bằng mẻ sành rất tinh xảo. Sự kết hợp hài hòa giữa cổng vòm, vọng lâu với những đường nét trang trí cửa vuông tròn, nét tinh tế uốn lượn của bờ nóc, bờ quyết cũng như cách tôn trí các tượng Hộ Pháp... làm cho các cổng tam quan các chùa Từ Hiếu, Báo Quốc, Diệu Viên, Thiên Mụ, Diệu Đế, Thánh Duyên vừa trông rất uy nghi, chắc khỏe vừa đem lại cảm giác thanh thoát, nhẹ nhàng cho hành giả cũng như thập phương tín thí và du khách mỗi khi vãn cảnh chùa.

Tam quan quốc tự Thánh Duyên
Với lối kiến trúc đặc trưng của cổng tam quan các ngôi cổ tự ở Huế, ngoài những giá trị nghệ thuật còn là một bài pháp trực quan rất có ý nghĩa để khi hành giả bước chân vào chốn già lam lòng trở nên thư thái, nhẹ nhàng và thanh tịnh.
Bài và ảnh: KHÔNG LỰC
Tam quan được xem như cửa ải giữa hai thế giới thánh phàm, tịnh nhiễm nhằm thanh lọc và bảo hộ tâm hồn của hành giả mỗi khi ra vào. Bởi vậy, người ta thường gọi cổng tam quan của nhà chùa là cửa Phật, cửa Tam bảo, cửa Thiền, cửa Từ bi, cửa Giải thoát (Tam giải thoát môn)...
Tam quan quốc tự Diệu Đế
Do vậy, trong bố cục kiến trúc tổng thể của một ngôi chùa xưa, chư Tổ thường đặc biệt quan tâm đến hạng mục kiến trúc cổng tam quan. Mỗi chiếc cổng tam quan xưa đều có sự phối hợp chặt chẽ giữa con người, cảnh vật và giáo lý giải thoát của nhà Phật để xây dựng nên nhằm giúp cho người bước vào luôn có cảm giác gần gũi, gạt bỏ ra ngoài những thị phi phiền muộn của thế gian ô trược, dọn lòng thanh tịnh trước khi vào lễ Phật bái tổ.
Tam quan chùa Từ Hiếu
Điển hình như một số cổng tam quan cổ rất đẹp còn được bảo lưu nguyên vẹn ở Huế mà mỗi lần bước chân vào người ta đều có cảm giác như đi vào “cửa thiền”. Đó là cổng tam quan chùa Báo Quốc, chùa Từ Hiếu, chùa Diệu Viên và cổng tam quan quốc tự Thiên Mụ, quốc tự Diệu Đế, quốc tự Thánh Duyên... Những chiếc tam quan của các chùa trên đều rất cổ, hầu hết được xây dựng từ thời các vua chúa nhà Nguyễn. Nét rêu phong trên những đường nét kiến trúc cổ kính đã đem lại cảm giác an lạc cho mọi người ngay từ khi bước chân vào cổng chùa. Kích thước chung mỗi kiến trúc tam quan cổ có chiều cao khoảng 7 đến 10m, chiều ngang khoảng hơn 8m, bề dày khoảng từ 2 đến 3m. Với kích thước như thế cổng tam quan còn có một chức năng tránh mưa nắng cho khách qua đường, đồng thời mỗi khi bước chân qua vòm cổng dày khoảng 2 đến 3m thấp lè tè có cảm giác như cạ ngang đầu làm cho mọi người có dịp cúi xuống để nhìn lại mình.
Tam quan chùa Báo Quốc
Cổng tam quan chùa Từ Hiếu, một kiểu tam quan xây dựng theo dạng thức cuốn vòm thượng lâu hạ cổng. Phần trên “lầu” dùng để tôn trí tượng Hộ Pháp, hai bên có hai lầu giả tô vẽ cảnh đẹp núi sông xứ Huế. Phần dưới có 3 vòm (tam quan) tượng trưng cho Tam bảo. Bước chân vào chiếc cổng tam quan này chúng ta liền thấy tâm hồn thanh thản. Cổng tam quan chùa Báo Quốc lại rất đồ sộ và cổ kính được xây bằng gạch có chiều cao 7,01m, chiều ngang 9,895m, chiều dày 2,54m, gồm 3 tầng tượng trưng cho Tam bảo mà không có phần lầu để thờ tượng Hộ Pháp. Tuy nhiên với kích thước cũng như cách trang trí chữ Hán và đường nét cổ kính, chiếc cổng cũng làm cho người ta có cảm giác nhẹ nhàng và thanh thoát khi bước vào.
Tam quan chùa Diệu Viên
Đặc biệt, cổng tam quan Thanh Trúc của chùa Diệu Viên lại được xây dựng theo lối cổng-động rất đặc trưng. Phía dưới chỉ một vòm cổng dẫn sâu hút vào chùa bằng một lối đi, phía trên là động Quán Âm, chất liệu gạch và vôi vữa nhưng bên ngoài dán đá để tạo ra một loại cổng hình hang động rất ấn tượng. Riêng tam quan của các ngôi quốc tự như Thiên Mụ, Diệu Đế, Thánh Duyên lại có một nét kiến trúc riêng có phần ảnh hưởng của lối kiến trúc cổng kinh thành Huế. Phần trên được kiến trúc theo kiểu vọng lâu dạng như nhà bia, bên dưới có 3 lối đi vào thiết kế theo hình khối vuông hay hình vòm. Phần mái vọng lâu của các cổng tam quan trên thường được lợp bằng ngói ống vàng hoặc xanh lưu li. Các bờ nóc, bờ quyết trang trí hình giao long cách điệu. Chính giữa thuyền nóc trang trí hình rồng chầu bánh xe pháp luân.
Tam quan quốc tự Thiên Mụ
Trên thân mỗi chiếc cổng tam quan được trang trí nhiều câu đối bằng chữ Hán nói lên lịch sử và cảnh đẹp của ngôi chùa cũng như những triết lý của nhà Phật cùng hoa văn rồng cuộn và hoa lá cành ghép bằng mẻ sành rất tinh xảo. Sự kết hợp hài hòa giữa cổng vòm, vọng lâu với những đường nét trang trí cửa vuông tròn, nét tinh tế uốn lượn của bờ nóc, bờ quyết cũng như cách tôn trí các tượng Hộ Pháp... làm cho các cổng tam quan các chùa Từ Hiếu, Báo Quốc, Diệu Viên, Thiên Mụ, Diệu Đế, Thánh Duyên vừa trông rất uy nghi, chắc khỏe vừa đem lại cảm giác thanh thoát, nhẹ nhàng cho hành giả cũng như thập phương tín thí và du khách mỗi khi vãn cảnh chùa.
Tam quan quốc tự Thánh Duyên
Với lối kiến trúc đặc trưng của cổng tam quan các ngôi cổ tự ở Huế, ngoài những giá trị nghệ thuật còn là một bài pháp trực quan rất có ý nghĩa để khi hành giả bước chân vào chốn già lam lòng trở nên thư thái, nhẹ nhàng và thanh tịnh.
Bài và ảnh: KHÔNG LỰC
Tái hiện lại nơi ở xưa gia đình vua Bảo Đại sau năm 1945 tại Huế
Du Lịch Huế - Chiều 9/6, Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế đã chính thức mở cửa trưng bày Khải Tường Lâu (thuộc Cung An Định) - nơi ở của gia đình cựu hoàng Bảo Đại và bà Từ Cung (mẹ vua Bảo Đại) giai đoạn 1945-1955.
Cung An Định được xây dựng vào năm 1917. Nguyên vào năm 1902, Nguyễn Phúc Bửu Đảo (vua Khải Định sau này) khi ra lập phủ riêng bên bờ sông An Cựu đã đặt tên cho nơi ở của mình là phủ An Định. Đến năm 1917, trên cơ sở của nền móng phủ cũ, vua cho xây dựng lại theo kiểu kiến trúc tân cổ điển và đổi tên từ phủ An Định thành cung An Định.
Công việc xây dựng cung An Định tiến hành đến năm 1918 thì hoàn thành. Trong bài Ngự chế An Định cung dẫn của vua Khải Định (được đắp nổi ở hành lang trước tầng 3 Khải Tường Lâu vào năm 1918), cũng như sách Khải Định chính yếu, cung An Định được xây dựng bằng bổng lộc của nhà vua trước khi lên ngôi, không dùng ngân khố để xây dựng. Mục đích là để ghi nhớ đến nơi tiềm để trước khi lên ngôi vua của vua, để sau này ban lại cho hoàng tử trưởng Vĩnh Thụy và lưu truyền tử tôn.
Thực hiện ý chỉ của vua Khải Định, ngày 28/5/1922, triều đình Huế tổ chức trọng thể lễ rước Đông cung Thái tử Vĩnh Thụy từ Đại Nội về Cung An Định. Và từ đó, cung An Định trở thành tài sản và là nơi ở của Đông Cung Hoàng Thái Tử Vĩnh Thụy (sau này là vua Bảo Đại). Sau đó, từ năm 1939 trở thành tài sản của Đông Cung Hoàng Thái Tử Bảo Long (con trưởng của vua Bảo Đại).

Khải Tường Lâu ở Cung An Định
Trước năm 1945, Cung An Định do triều Nguyễn quản lý. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, cung An Định trở thành nơi ở của đức Từ Cung (mẹ vua Bảo Đại) và gia đình cựu hoàng Bảo Đại. Từ năm 1954, sau khi phế truất Bảo Đại, cung An Định bị chính quyền Ngô Đình Diệm tịch thu. Đức Từ Cung mua lại căn nhà số 79 Phan Đình Phùng, nguyên là nhà của bà Ân Phi Hồ Thị Chỉ (thứ phi vua Khải Định - cha vua Bảo Định) để ở cho đến ngày tạ thế.
Lịch sử cho thấy sau 1975, chính quyền Cách Mạng đã tiếp quản và chuyển trả cung An Định cho đức Từ Cung, nhưng bà tự nguyện hiến cơ sở này cho chính quyền. Từ đó đến đầu năm 2002, cung An Định do Liên đoàn thành phố Huế mà trực tiếp là Nhà văn hóa Lao động Thành phố Huế quản lý. Đến đầu năm 2002, cung được giao cho Trung tâm Bảo tồn Di tích cố đô Huế quản lý. Vào các năm 2007, 2008, Khải Tường Lâu đã được trùng tu. Trong khuôn khổ dự án phục chế tranh tường tại Khải Tường Lâu, Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế đã phối hợp với các chuyên gia của CHLB Đức tiến hành phục chế gần 2.000m2 tranh tường, trả lại vẻ đẹp nguyên xưa của nó.
Đặc biệt ở tầng 1, nội thất có 7 phòng, nổi bật ở phòng chính (sảnh đường) là 6 bức bích họa. Những bức tranh này được vẽ trực tiếp bằng sơn dầu lên mặt tường trát xi măng có khung gỗ thếp vàng. Các bức tranh này tuy không đề tên nhưng cũng có thể dễ dàng nhận biết đó là hình ảnh ở các lăng vua triều Nguyễn. Bên cạnh 6 bức tranh lớn thì các mảng tường còn lại và trên trần nhà đều có trang trí đồ họa mô tip hoa lá.
Hiện nay, các tài liệu và hiện vật liên quan đến Khải Tường Lâu trong giai đoạn 1922 đến 1945 (khi chức năng sử dụng là nơi ở của Đông Cung Hoàng Thái Tử) là không có đủ cơ sở cho việc trưng bày. Bên cạnh đó, ở giai đoạn từ sau năm 1945 đến năm 1955 (khi chức năng sử dụng của Khải Tường Lâu là nơi ở của Đức Từ Cung và gia đình cựu hoàng Bảo Đại) cũng khó có thể tái hiện một cách đầy đủ.
Việc trưng bày tại nội thất Khải Tường Lâu được thực hiện trên cơ sở nguồn hiện vật hiện có tại Nhà lưu niệm bà Từ Cung; so sánh, đối chiếu, ghi nhận theo lời kể của một số chứng nhân, đặc biệt là bà Lê Thị Dinh, người từng có thời gian dài làm việc tại cung An Định với vai trò là người hầu phục vụ bà Từ Cung và gia đình vua Bảo Đại.
Nội thất của Khải Tường Lâu - nơi ở của gia đình vua Bảo Đại và bà Từ Cung đã được tái hiện lại
Phần trưng bày sử dụng nguồn hiện vật liên quan đến bà Từ Cung và gia đình vua Bảo Đại hiện lưu giữ tại Nhà lưu niệm bà Từ Cung và nhóm hiện vật được chuyển về bảo quản tại kho Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế năm 1981. Ngoài ra còn có trưng bày 1 bức tranh về gia đình vua Bảo Đại do gia đình cựu hoàng tặng cho Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế năm 2011.
Với phương pháp điều tra, phỏng vấn các chứng nhân, các nhà nghiên cứu, kết hợp với phương pháp so sánh, đối chiếu, nội dung trưng bày đã tái hiện phần nào không gian của Khải Tường Lâu trong giai đoạn từ 1945 đến 1955. Ở tầng 1 là không gian phòng ăn, tiếp khách và giải trí. Đáng tiếc là phòng giải trí không có nhiều các vật dụng. Ở tầng 2 là phòng ngủ của bà Từ Cung, phòng ngủ và phòng giải trí của gia đình vua Bảo Đại, phòng của người hầu...
Tuy nhiên do nguồn hiện vật hiện đã bị thất tán, vì vậy tại phòng ngủ của bà Từ Cung chỉ mang tính tượng trưng. Tại khu vực phòng của người hầu, phòng giải trí của các hoàng tử công chúa hiện không có các hiện vật phù hợp nên chỉ trưng bày các hiện vật là đồ gia dụng xuất xứ từ cung An Định.
Có thể nói, việc tổ chức trưng bày nhằm tái hiện không gian xưa kia của Khải Tường Lâu có một ý nghĩa đặc biệt, đó là làm sống lại phần hồn của di tích kiến trúc với những cách bài trí phù hợp, tạo nên sức hấp dẫn của di tích. Hiện, đội ngũ làm công tác khoa học của Trung tâm rất mong nhận được nhiều ý kiến góp ý, bổ sung của các nhà nghiên cứu để tiếp tục chỉnh lý, bổ sung nhằm tiếp tục hoàn thiện hơn nữa về không gian trưng bày đặc biệt này.


Khách mời tham quan Khải Tường Lâu

Tấm gương đặt cạnh cầu thang tầng 1

Phòng khách của vua Bảo Đại

Tủ chưng đồ

Có thêm các tượng chân dung của Bảo Đại - vị vua cuối cùng triều đại phong kiến Việt Nam

Phòng giải trí tầng 1

Bộ bàn có lát mặt bàn bằng tấm đá cẩm thạch lớn

Ghế trường kỷ chạm xà cừ tinh xảo

Cầu thang dẫn lên tầng 2

Bức tranh vẽ gia đình cựu hoàng Bảo Đại được gia đình vua tặng cho Huế năm 2011

Phòng ngủ tượng trưng của đức Từ Cung

Các đôn gỗ để vật dụng và hoa

Một chiếc giường chạm rồng

Giá để nến có chân là 3 con rồng chầu

Tủ đựng quần áo

Gương soi

Mảng tường ở tầng 2 được vẽ công phu với hoa văn đẹp

Lối đi dẫn vào các phòng trên tầng 2

Bộ đồ uống cafe của vua Bảo Đại

Bộ đồ vật dụng của đức Từ Cung

Chân dung đức Từ Cung

Nội thất Khải Tường Lâu tráng lệ khi nhìn từ cầu thang xuống

Phòng ăn

1 tấm ảnh đen trắng trong phòng này chụp đức Từ Cung bồng cháu, đứng bên là vua Bảo Đại, hoàng hậu Nam Phương

Diềm trang trí cạnh trần, bậu cửa lớn và hoa văn vẽ trên tường

Hình hoa lá ở một góc tường rẽ vào hành lang dưới tầng 1

1 trong sáu bức bích họa được vẽ vào tường ở sảnh đường và có khung gỗ thếp vàng bọc lại

Bộ bàn ghế lát đá cẩm thạch quý

Phòng giải trí của công chúa, hoàng tử ở tầng 2
Theo Đại Dương
Cung An Định được xây dựng vào năm 1917. Nguyên vào năm 1902, Nguyễn Phúc Bửu Đảo (vua Khải Định sau này) khi ra lập phủ riêng bên bờ sông An Cựu đã đặt tên cho nơi ở của mình là phủ An Định. Đến năm 1917, trên cơ sở của nền móng phủ cũ, vua cho xây dựng lại theo kiểu kiến trúc tân cổ điển và đổi tên từ phủ An Định thành cung An Định.
Công việc xây dựng cung An Định tiến hành đến năm 1918 thì hoàn thành. Trong bài Ngự chế An Định cung dẫn của vua Khải Định (được đắp nổi ở hành lang trước tầng 3 Khải Tường Lâu vào năm 1918), cũng như sách Khải Định chính yếu, cung An Định được xây dựng bằng bổng lộc của nhà vua trước khi lên ngôi, không dùng ngân khố để xây dựng. Mục đích là để ghi nhớ đến nơi tiềm để trước khi lên ngôi vua của vua, để sau này ban lại cho hoàng tử trưởng Vĩnh Thụy và lưu truyền tử tôn.
Thực hiện ý chỉ của vua Khải Định, ngày 28/5/1922, triều đình Huế tổ chức trọng thể lễ rước Đông cung Thái tử Vĩnh Thụy từ Đại Nội về Cung An Định. Và từ đó, cung An Định trở thành tài sản và là nơi ở của Đông Cung Hoàng Thái Tử Vĩnh Thụy (sau này là vua Bảo Đại). Sau đó, từ năm 1939 trở thành tài sản của Đông Cung Hoàng Thái Tử Bảo Long (con trưởng của vua Bảo Đại).
Khải Tường Lâu ở Cung An Định
Trước năm 1945, Cung An Định do triều Nguyễn quản lý. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, cung An Định trở thành nơi ở của đức Từ Cung (mẹ vua Bảo Đại) và gia đình cựu hoàng Bảo Đại. Từ năm 1954, sau khi phế truất Bảo Đại, cung An Định bị chính quyền Ngô Đình Diệm tịch thu. Đức Từ Cung mua lại căn nhà số 79 Phan Đình Phùng, nguyên là nhà của bà Ân Phi Hồ Thị Chỉ (thứ phi vua Khải Định - cha vua Bảo Định) để ở cho đến ngày tạ thế.
Lịch sử cho thấy sau 1975, chính quyền Cách Mạng đã tiếp quản và chuyển trả cung An Định cho đức Từ Cung, nhưng bà tự nguyện hiến cơ sở này cho chính quyền. Từ đó đến đầu năm 2002, cung An Định do Liên đoàn thành phố Huế mà trực tiếp là Nhà văn hóa Lao động Thành phố Huế quản lý. Đến đầu năm 2002, cung được giao cho Trung tâm Bảo tồn Di tích cố đô Huế quản lý. Vào các năm 2007, 2008, Khải Tường Lâu đã được trùng tu. Trong khuôn khổ dự án phục chế tranh tường tại Khải Tường Lâu, Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế đã phối hợp với các chuyên gia của CHLB Đức tiến hành phục chế gần 2.000m2 tranh tường, trả lại vẻ đẹp nguyên xưa của nó.
Đặc biệt ở tầng 1, nội thất có 7 phòng, nổi bật ở phòng chính (sảnh đường) là 6 bức bích họa. Những bức tranh này được vẽ trực tiếp bằng sơn dầu lên mặt tường trát xi măng có khung gỗ thếp vàng. Các bức tranh này tuy không đề tên nhưng cũng có thể dễ dàng nhận biết đó là hình ảnh ở các lăng vua triều Nguyễn. Bên cạnh 6 bức tranh lớn thì các mảng tường còn lại và trên trần nhà đều có trang trí đồ họa mô tip hoa lá.
Hiện nay, các tài liệu và hiện vật liên quan đến Khải Tường Lâu trong giai đoạn 1922 đến 1945 (khi chức năng sử dụng là nơi ở của Đông Cung Hoàng Thái Tử) là không có đủ cơ sở cho việc trưng bày. Bên cạnh đó, ở giai đoạn từ sau năm 1945 đến năm 1955 (khi chức năng sử dụng của Khải Tường Lâu là nơi ở của Đức Từ Cung và gia đình cựu hoàng Bảo Đại) cũng khó có thể tái hiện một cách đầy đủ.
Việc trưng bày tại nội thất Khải Tường Lâu được thực hiện trên cơ sở nguồn hiện vật hiện có tại Nhà lưu niệm bà Từ Cung; so sánh, đối chiếu, ghi nhận theo lời kể của một số chứng nhân, đặc biệt là bà Lê Thị Dinh, người từng có thời gian dài làm việc tại cung An Định với vai trò là người hầu phục vụ bà Từ Cung và gia đình vua Bảo Đại.
Nội thất của Khải Tường Lâu - nơi ở của gia đình vua Bảo Đại và bà Từ Cung đã được tái hiện lại
Phần trưng bày sử dụng nguồn hiện vật liên quan đến bà Từ Cung và gia đình vua Bảo Đại hiện lưu giữ tại Nhà lưu niệm bà Từ Cung và nhóm hiện vật được chuyển về bảo quản tại kho Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế năm 1981. Ngoài ra còn có trưng bày 1 bức tranh về gia đình vua Bảo Đại do gia đình cựu hoàng tặng cho Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế năm 2011.
Với phương pháp điều tra, phỏng vấn các chứng nhân, các nhà nghiên cứu, kết hợp với phương pháp so sánh, đối chiếu, nội dung trưng bày đã tái hiện phần nào không gian của Khải Tường Lâu trong giai đoạn từ 1945 đến 1955. Ở tầng 1 là không gian phòng ăn, tiếp khách và giải trí. Đáng tiếc là phòng giải trí không có nhiều các vật dụng. Ở tầng 2 là phòng ngủ của bà Từ Cung, phòng ngủ và phòng giải trí của gia đình vua Bảo Đại, phòng của người hầu...
Tuy nhiên do nguồn hiện vật hiện đã bị thất tán, vì vậy tại phòng ngủ của bà Từ Cung chỉ mang tính tượng trưng. Tại khu vực phòng của người hầu, phòng giải trí của các hoàng tử công chúa hiện không có các hiện vật phù hợp nên chỉ trưng bày các hiện vật là đồ gia dụng xuất xứ từ cung An Định.
Có thể nói, việc tổ chức trưng bày nhằm tái hiện không gian xưa kia của Khải Tường Lâu có một ý nghĩa đặc biệt, đó là làm sống lại phần hồn của di tích kiến trúc với những cách bài trí phù hợp, tạo nên sức hấp dẫn của di tích. Hiện, đội ngũ làm công tác khoa học của Trung tâm rất mong nhận được nhiều ý kiến góp ý, bổ sung của các nhà nghiên cứu để tiếp tục chỉnh lý, bổ sung nhằm tiếp tục hoàn thiện hơn nữa về không gian trưng bày đặc biệt này.
Khách mời tham quan Khải Tường Lâu
Tấm gương đặt cạnh cầu thang tầng 1
Phòng khách của vua Bảo Đại
Tủ chưng đồ
Có thêm các tượng chân dung của Bảo Đại - vị vua cuối cùng triều đại phong kiến Việt Nam
Phòng giải trí tầng 1
Bộ bàn có lát mặt bàn bằng tấm đá cẩm thạch lớn
Ghế trường kỷ chạm xà cừ tinh xảo
Cầu thang dẫn lên tầng 2
Bức tranh vẽ gia đình cựu hoàng Bảo Đại được gia đình vua tặng cho Huế năm 2011
Phòng ngủ tượng trưng của đức Từ Cung
Các đôn gỗ để vật dụng và hoa
Một chiếc giường chạm rồng
Giá để nến có chân là 3 con rồng chầu
Tủ đựng quần áo
Gương soi
Mảng tường ở tầng 2 được vẽ công phu với hoa văn đẹp
Lối đi dẫn vào các phòng trên tầng 2
Bộ đồ uống cafe của vua Bảo Đại
Bộ đồ vật dụng của đức Từ Cung
Chân dung đức Từ Cung
Nội thất Khải Tường Lâu tráng lệ khi nhìn từ cầu thang xuống
Phòng ăn
1 tấm ảnh đen trắng trong phòng này chụp đức Từ Cung bồng cháu, đứng bên là vua Bảo Đại, hoàng hậu Nam Phương
Diềm trang trí cạnh trần, bậu cửa lớn và hoa văn vẽ trên tường
Hình hoa lá ở một góc tường rẽ vào hành lang dưới tầng 1
1 trong sáu bức bích họa được vẽ vào tường ở sảnh đường và có khung gỗ thếp vàng bọc lại
Bộ bàn ghế lát đá cẩm thạch quý
Phòng giải trí của công chúa, hoàng tử ở tầng 2
Theo Đại Dương
Saturday, May 2, 2015
Tàng Thư Lâu
Du Lịch Huế - Lầu Tàng Thơ (Tàng Thư lâu) là một trong những kho lưu trữ tài liệu quốc gia của triều đình Nguyễn. Tàng thư lâu là một công trình xây dựng trên hồ Học Hải, Huế vào năm 1825.

Chỉ dẫn Tàng Thơ Lâu qua sơ đồ kinh thành Huế - Internet
Theo sách Đại Nam Thực Lục và Đại Nam Nhất Thống Chí cho biết, Lầu Tàng Thơ được xây dựng vào mùa hè năm 1825. Tòa nhà được xây dựng bằng gạch, đá, tầng dưới 11 gian, tầng trên 7 gian 2 chái trên hòn đảo hình chữ nhật giữa hồ Học Hải, cạnh hồ Tịnh Tâm. Đảo nằm giữa hồ nước chỉ nối với đất liền bằng một chiếc cầu đá. Không gian thoáng đãng và đẹp đẽ. Để xây dựng công trình, triều đình Huế đa điều 1000 binh lính, giao cho Thự thống chế Đoàn Đức Nhuận điều khiển việc thi công. Sau khi xây dựng xong, nhà vua đã lệnh cho các quan chuyên trách kiểm kê, sổ sách, chọn ngày lành, chuyển đến tầng trên của tòa nhà tàng trữ tại đây…

Theo tài liệu thời Nguyễn thì tất cả sổ sách của sáu bộ và các nha tại kinh đô sau mỗi năm đưa đến đây để lưu giữ. Sổ sách của bộ Hộ, chỉ riêng số điền bạ thời Gia Long và Minh Mạng ở đây đã lưu giữ được 12.000 tập. Đây quả là kho tư liệu quí giá, giống như Cục lưu trữ của chúng ta sau này. Việc thiết kế xây dựng cho đến chức năng sử dụng của nó đã chứng tỏ cái nhìn khoa học và ý thức gìn giữ di sản văn hóa của vua và triều đình Minh Mạng. Nền nhà ở tầng dưới đươc rải chất lưu huỳnh để trừ khử mối mọt, kiến, gián. Tầng chứa tư liệu ở trên trổ nhiều cửa, chung quanh xây lan can thưa thoáng để tránh ẩm mốc.
Lầu Tàng Thơ được xây bằng đá, gạch, xung quanh lại cho đào hồ sâu, xây tường quanh bờ hồ. Tòa nhà nằm biệt lập giữa mặt hồ nước để tránh sự lây lan của hỏa hoạn và cũng là để bảo vệ các tư liệu gốc của quốc gia, giúp ích cho đương thời và cả các thế hệ sau.
Lầu Tàng Thơ đã làm tròn nhiệm vụ văn hóa mà triều đình giao phó cho trong gần 120 năm, từ 1826 – 1945. Từ sau 1945, triều Nguyễn bị lật đổ, cơ quan lưu trữ này cũng ngừng hoạt động. Chiến tranh diên ra mấy chục năm triền miên, thêm vào đó là sự quan tâm thiếu đúng mức vì không thấy hết giá trị của nguồn tư liệu đồ sộ này nên cả khối lượng sách khổng lồ của triều Nguyễn tàng trữ ở Lầu Tàng Thơ đã thất thoát hết. Ngày nay, viếng thăm nơi đây chỉ là để ngắm phong cảnh, tìm hiểu cốt cách kiến trúc của một công trình cũng khá độc đáo của cố đô thân yêu.
Chỉ dẫn Tàng Thơ Lâu qua sơ đồ kinh thành Huế - Internet
Theo sách Đại Nam Thực Lục và Đại Nam Nhất Thống Chí cho biết, Lầu Tàng Thơ được xây dựng vào mùa hè năm 1825. Tòa nhà được xây dựng bằng gạch, đá, tầng dưới 11 gian, tầng trên 7 gian 2 chái trên hòn đảo hình chữ nhật giữa hồ Học Hải, cạnh hồ Tịnh Tâm. Đảo nằm giữa hồ nước chỉ nối với đất liền bằng một chiếc cầu đá. Không gian thoáng đãng và đẹp đẽ. Để xây dựng công trình, triều đình Huế đa điều 1000 binh lính, giao cho Thự thống chế Đoàn Đức Nhuận điều khiển việc thi công. Sau khi xây dựng xong, nhà vua đã lệnh cho các quan chuyên trách kiểm kê, sổ sách, chọn ngày lành, chuyển đến tầng trên của tòa nhà tàng trữ tại đây…
Theo tài liệu thời Nguyễn thì tất cả sổ sách của sáu bộ và các nha tại kinh đô sau mỗi năm đưa đến đây để lưu giữ. Sổ sách của bộ Hộ, chỉ riêng số điền bạ thời Gia Long và Minh Mạng ở đây đã lưu giữ được 12.000 tập. Đây quả là kho tư liệu quí giá, giống như Cục lưu trữ của chúng ta sau này. Việc thiết kế xây dựng cho đến chức năng sử dụng của nó đã chứng tỏ cái nhìn khoa học và ý thức gìn giữ di sản văn hóa của vua và triều đình Minh Mạng. Nền nhà ở tầng dưới đươc rải chất lưu huỳnh để trừ khử mối mọt, kiến, gián. Tầng chứa tư liệu ở trên trổ nhiều cửa, chung quanh xây lan can thưa thoáng để tránh ẩm mốc.
Lầu Tàng Thơ được xây bằng đá, gạch, xung quanh lại cho đào hồ sâu, xây tường quanh bờ hồ. Tòa nhà nằm biệt lập giữa mặt hồ nước để tránh sự lây lan của hỏa hoạn và cũng là để bảo vệ các tư liệu gốc của quốc gia, giúp ích cho đương thời và cả các thế hệ sau.
Lầu Tàng Thơ đã làm tròn nhiệm vụ văn hóa mà triều đình giao phó cho trong gần 120 năm, từ 1826 – 1945. Từ sau 1945, triều Nguyễn bị lật đổ, cơ quan lưu trữ này cũng ngừng hoạt động. Chiến tranh diên ra mấy chục năm triền miên, thêm vào đó là sự quan tâm thiếu đúng mức vì không thấy hết giá trị của nguồn tư liệu đồ sộ này nên cả khối lượng sách khổng lồ của triều Nguyễn tàng trữ ở Lầu Tàng Thơ đã thất thoát hết. Ngày nay, viếng thăm nơi đây chỉ là để ngắm phong cảnh, tìm hiểu cốt cách kiến trúc của một công trình cũng khá độc đáo của cố đô thân yêu.
Subscribe to:
Posts (Atom)