Thursday, April 30, 2015

Đại Nội Huế

Du Lịch Huế - Hoàng Thành nằm bên trong Kinh Thành, có chức năng bảo vệ các cung điện quan trọng nhất của triều đinh, các miếu thờ tổ tiên nhà Nguyễn và bảo vệ Tử Cấm Thành - nơi dành riêng cho vua và hoàng gia. Người ta thường gọi chung Hoàng Thành và Tử Cấm Thành là Đại Nội.



Ngọ Môn là cổng chính phía nam của Hoàng thành, được xây dựng năm Minh Mạng 14 (1833), trên đài có điện Càn Nguyên, hai bên có hai cửa là Tả Đoan Môn và Hữu Đoan Môn.Ngọ Môn có nghĩa là chiếc cổng xây mặt về hướng Ngọ - hướng nam, hướng mà Dịch học qui định dành cho bậc vua Chúa Ngọ Môn gần hai phần chính: đài - cổng và lầu Ngũ Phụng

Cầu Trung Đạo bắc qua hồ Thái Dịch đến điện Thái Hòa và sân Đại triều nghi

Điện Thái Hoà và sân Đại Triều Nghi, được dùng cho các buổi Triều Nghi như: lễ Đăng Quang, sinh nhật Vua, đón tiếp Sứ Thần và các buổi Đại Triều tổ chức 2 lần vào ngày 1 và 15 Âm lịch hàng tháng, đây là trung tâm quyền lực của VN thời phong kiến.

Hưng Miếu (tức Hưng Tổ Miếu) thờ ông Nguyễn Phúc Côn, thân sinh vua Gia Long. Sinh thời ông không ở ngôi chúa nhưng sau vẫn được truy tôn miếu hiệu là Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng Đế. Miếu được dựng từ năm Gia Long 3 (1804) ở góc tây nam trong Hoàng thành. Lễ tế ở Hưng Miếu tổ chức mỗi năm 5 lần.

Thế Tổ miếu thường gọi là Thế Miếu toạ lạc tại góc Tây Nam bên trong hoàng thành Huế, là nơi Thờ các vị Vua triều Nguyễn,đây là nơi triều đình đến cúng tế các vị Vua quá cố, nội giới trong triều (kể cả Hoàng Hậu).

Cung Diên Thọ nằm ở phía tây bắc trong Hoàng thành, được xây dựng từ năm 1803, dùng làm nơi ở và sinh hoạt hàng ngày của hoàng thái hậu (mẹ vua), có khi cả thái hoàng thái hậu triều Nguyễn.Tên cung có ý nghĩa mong muốn kéo dài tuổi thọ, kéo dài sự sống .

Hiền Lâm Các được xây dựng vào năm 1821 hoàn thành năm 1822 trong khu vực Miếu thờ hoàng thành Huế, cao 17 mét là công trình cao nhất trong hoàng thành, là đài kỷ niệm ghi nhớ công tích các vua triều Nguyễn và các đại thần có công lớn trong triều đại.

Cửu Đỉnh là 9 cái đỉnh bằng Đồng đặt ở trước Hiền lâm các đối diện Thế Miếu phía Tây Nam hoàng thành Huế, đúc ở Huế cuối năm 1835, hoàn thành 1837, dùng làm biểu tượng cho sự giàu đẹp, thống nhất của đất nước và ước mơ triều đại mãi vững bền. Mỗi đỉnh có khắc một tên riêng được lấy từ miếu hiệu và được xem là biểu tượng của vị vua đó.Cao Đỉnh : vua Gia Long, Nhân Đỉnh : vua Minh Mạng, Chương Đỉnh : vua Thiệu Trị, Anh Đỉnh : vua Tự Đức, Nghị Đỉnh : vua Kiến Phúc, Thuần Đỉnh : vua Đồng Khánh, Tuyên Đỉnh : vua Khải Định. Dũ Đỉnh và Huyền Đỉnh chưa tượng trưng cho ông vua nào.

Tả Vu và Hữu Vu, xây dựng đầu Thế Kỷ 19 và trùng tu năm 1899, Tả Vu dành cho các quan Văn, Hữu Vu cho quan Võ là nơi các quan chuẩn bị nghi thức trước khi thiết triều, nơi làm việc của Cơ Mật Viện, nơi tổ chức thi Đình và Yến tiệc.

Thái Bình Lâu nằm ở bên trong Tử Cấm Thành, được Vua Khải Định khởi công xây dựng năm 1919 hoàn thành năm 1921 là nơi để nhà Vua có thể nghỉ ngơi lúc rảnh rổi, đọc sách, viết văn, làm thơ và thư giãn.

Duyệt Thị Đường được xây dựng vào năm Minh Mạng thứ 7 (năm 1826) nằm bên trong Tử Cấm Thành là sân khấu chính làm làm nơi biễu diễn ca hát dành cho Vua, các bà hoàng, cung tần mỹ nữ và các quan của triều đình.

Tuesday, April 28, 2015

Thú vị biển Vinh Thanh

Du Lịch Huế - Từ một miền hoang sơ, ngày nay bãi biển Vinh Thanh (H.Phú Vang, Thừa Thiên-Huế) đã trở thành một địa chỉ thú vị.

Ngon, rẻ, đẹp là nhận xét của những ai từng đến bãi tắm Vinh Thanh. Đó là thành quả từ sự đồng lòng của chính quyền và người dân nơi đây sau 4 năm đầu tư và phát triển. Cách đây 5 năm, bãi biển Vinh Thanh vẫn còn hoang sơ, các hàng quán còn thưa thớt và lụp xụp. Người đến tắm chủ yếu là cư dân địa phương. Nhưng vài năm qua, nơi đây trở thành một địa chỉ thu hút người dân xứ Huế, đặc biệt vào những ngày lễ hay cuối tuần, lượng khách kéo về đông đến mức quá tải.

Vinh Thanh là bãi biển sạch, có độ sâu an toàn, cũng là nguồn cung cấp hải sản cho các vùng lân cận. Hiện tại, cơ sở hạ tầng nơi đây đã bước đầu hoàn thiện. Dãy nhà hàng gồm 10 hàng quán được sắp xếp một cách có hệ thống, sạch sẽ. Đội cứu hộ túc trực thường xuyên. Đội trật tự có nhiệm vụ đảm bảo tình hình an ninh cho bãi tắm. Ngoài ra đội y tế cũng luôn có mặt để cấp cứu kịp thời những trường hợp không hay xảy ra cho khách.

Mực tươi ở Vinh Thanh giá mềm, mua bao nhiêu cũng có - Ảnh: Bùi Ngọc Long

“Bãi biển Vinh Thanh hiền lắm. Từ trước đến nay, chưa có một trường hợp đáng tiếc nào xảy ra. Chúng tôi đã thiết lập một hàng rào phao để cảnh báo độ an toàn cho khách” - anh Hùng, một đội viên trong đội cứu hộ cho biết.

Để ngăn chặn tình trạng chặt chém, chính quyền xã đã có những chính sách phù hợp với người buôn bán nơi đây. Chẳng hạn như hạ giá mặt bằng, thuế, yêu cầu các hàng quán rút kinh nghiệm các bãi tắm khác để bước đầu xây dựng một thương hiệu bãi tắm an toàn, văn minh và giá cả hợp lý.

Vào sáng sớm hoặc chiều tối, khi các tàu thuyền cập bến, du khách sẽ mua được hải sản tươi sống mà giá cả rất phải chăng.

“Vinh Thanh nằm trên trục đường QL49 nên rất thuận tiện. Về đây không chỉ tắm mà còn mua được hải sản ngon và rẻ. Thật là lựa chọn sáng suốt để cùng gia đình sảng khoái những ngày nghỉ trên bãi biển Vinh Thanh” - chị Nguyệt, sống tại Trường An, TP.Huế, vui vẻ nói.

Theo Tuyết Khoa

Monday, April 27, 2015

Thánh Duyên: Ngôi quốc tự mộng mơ xứ Huế

Du Lịch Huế - Thánh Duyên là ngôi quốc tự có vị trí đẹp, nơi trời mây sông nước quyện hòa cùng phong cảnh Bụt. Chùa tọa lạc tại Thúy Vân sơn, ngọn núi được vua Thiệu Trị xếp hàng thứ chín trong 20 cảnh đẹp của xứ Huế, thuộc phường Đông Am, tổng Diên Trường, huyện Phú Lộc, phủ Thừa Thiên. Nay là làng Hiền An, xã Vinh Hiền, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế.

Khi trùng kiến chùa vào năm 1836, vua Minh Mạng đã dụ rằng: “Những danh lam thắng tích ta không có quyền để chúng lụi tàn, mất hết dấu tích, không lưu lại cho thế hệ mai sau. Huống gì quang cảnh nơi đây đều do Hoàng tổ của ta (Minh Vương Nguyễn Phúc Chu) vì triều đình, vì thần dân mà tạo dựng, nhằm mục đích khuyến khích mọi người tu tâm, tích thiện, tạo phước điền”.

Chùa được vua đặt tên là Thánh Duyên vì: “Thánh tức thị Phật, Phật tức thị Thánh, hữu thị Thánh phương khai Phật pháp chi sùng thâm; duyên bổn thị nhân, nhân bổn thị duyên, hữu thị duyên nãi khuyếch thiện nhân chi quảng bị”. Chính vua Minh Mạng đã ngự chế câu đối ấy và cho lồng chép vào nội dung văn bia để khắc vào bia đá “Ngự chế Thánh Duyên tự chiêm lễ” vẫn còn ở chùa.

Cổng tam quan chùa Thánh Duyên được xây dựng theo dạng cổ lâu đặc trưng của Huế

Kiến trúc chùa Thánh Duyên hài hòa với địa thế của ngọn núi nơi ngôi chùa tọa lạc. Bia đề tên núi “Thúy Vân sơn” bắt đầu những bậc tam cấp lên chùa. Cổng tam quan dạng cổ lâu đặc trưng chùa Huế có thiết trí thờ Hộ pháp Vi Đà.

Chính điện là tòa nhà ba gian hai chái, cao rộng và thoáng đãng. Phần mái được lợp ngói liệt theo kiểu trùng thiềm điệp ốc đặc trưng của Huế trang trí bằng cù giao, lưỡng long, vân hóa long tinh xảo.

Nội điện thờ Phật cùng nhiều vị hiền thánh thiện thần khác. Gian chính ở giữa thờ Tam Thế Phật: Quá khứ, hiện tại và vị lai; phía trước thấp hơn bàn thờ Phật là bàn thờ bài vị vua Minh Mạng.
Hai bên có hai dãy sập để tôn trí thờ Thập Điện Minh Vương, mỗi bên gần sát vách thờ 5 tượng; tiếp đến vào phía trong thờ 2 dãy tượng Thập Bát La Hán, mỗi bên 9 tượng.

Đại hùng bửu điện là gian nhà rường đặc trưng.

Dãy bên trái có tượng Bồ Đề Đạt Ma tọa thiền, đối diện bên phải là tượng Địa Tạng ngồi trên con sư tử xanh. Phía sau chính điện là nhà tổ, thờ các thế hệ tăng cang và thập phương thiện tín của chùa.
Nằm giữa lưng chừng núi, cách chính điện khoảng chừng 50 mét là Đại Từ Các. Đây cũng là ngôi nhà rường nằm trong tổng thể kiến trúc theo hình thế núi: Chùa, gác, tháp. Sau khi trùng tu, các Đại Từ được chia làm 3 gian: Gian giữa phía trước thờ Phật (A Di Đà, Thích Ca Mâu Ni và Di Lặc), phía sau là pho tượng Chuẩn Đề Bồ Tát, gian bên phải thờ đức Quan Âm và gian bên trái thờ Bồ Tát Đại Thế Chí.
Công trình cao nhất nằm trong tổng thể kiến trúc chùa Thánh Duyên là tháp Điều Ngự hình khối tứ giác có 3 tầng, cao khoảng 13 mét. Điều Ngự là một trong mười danh xưng của Đức Phật nhưng Điều Ngự cũng có ý nghĩa là nơi để vua điều phục và chế ngự tâm. Khi tâm đã được chế ngự thì không có việc gì không làm được, đây chính là ý nghĩa của việc vua Minh Mạng cho dựng đình Tiến Sảng phía đằng sau tháp. Trên đỉnh tháp ngày xưa có dựng trụ đồng đặt pháp luân chuyển động theo gió, kèm theo hệ thống chuông lắc. Khi gió thổi pháp luân xoay, âm thanh của tiếng chuông sẽ vang vọng gần xa.



Tháp Điều Ngự hình khối tứ giác có 3 tầng, cao khoảng 13 mét, là một trong mười danh xưng của Đức Phật nhưng Điều Ngự cũng có ý nghĩa là nơi để vua điều phục và chế ngự tâm

Là quốc tự nên sau khi được trùng tu dưới triều Minh Mạng, nhiều vị cao tăng đã được sắc cử làm tăng cang và trụ trì ở đây để lo Phật sự như Hòa thượng Liễu Đạo Chí Tâm, Hòa thượng Tánh Khoát Huệ Cảnh, Tánh Thông Nhất Trí, Hòa thượng Vĩnh Thừa, Hòa thượng Giác Nhiên, Hòa thượng Mật Hiển. Hiện nay Hòa thượng Hải Ấn giữ nhiệm vụ làm trụ trì chùa nhưng người đang sống và coi sóc công việc của ngôi tự lại là Đại đức Thích Minh Chính.
Sau một thời gian dài bị đồi phế, Thánh Duyên đã được Nhà nước và Giáo hội Phật giáo tỉnh Thừa Thiên - Huế trùng tu năm 2003 để trả lại vẻ đẹp vốn có cho ngôi chùa. Nhiều văn vật, pháp tự, pháp khí có giá trị như chuông đồng, bia đá và các bài thơ của các vị vua triều Nguyễn chạm trên vách đố bằng gỗ theo lối nhất thi nhất họa vẫn được bảo tồn và lưu giữ cẩn thận, đặc biệt là những pho tượng bằng tre hay bằng đồng rất có giá trị.
Trong số gần 70 pho tượng tại chùa, đáng chú ý hơn cả là bộ tượng Thập Bát La Hán bằng tre thếp vàng và bộ tượng Thập Bát La Hán bằng đồng xưa và lớn nhất Việt Nam được ghi vào sách Kỷ lục Việt Nam năm 2008.
Vào những thập niên đầu của thế kỉ 20, quốc tự Thánh Duyên đã từng là đạo tràng lớn của Giáo hội. Chùa một thời được Chư tôn đức trong sơn môn Tăng già Thừa Thiên dùng làm nơi tu học cho chư tăng vào các mùa An cư kiết hạ. Đến thời kỳ hội An Nam Phật học ra đời, khuôn hội Tịnh độ cũng đã được thành lập tại đây. Bỏ lại đằng sau sự huy hoàng của quá khứ, chùa Thánh Duyên ngày nay đang hòa mình vào đời sống dân dã của làng quê. Chùa vẫn là nơi du khách thập phương vãn cảnh dù đông hay hè, là nơi Phật tử lui tới cúng dường đức Phật và cũng là nơi nuôi dưỡng những tâm hồn trẻ thơ, giúp thế hệ tương lai của đất nước hướng thiện.
Đến chùa vào ngày Rằm, mồng một, các em thanh thiếu niên quây quần bên thầy Thích Minh Chính vui chơi cũng như trong bữa cơm chay đạm bạc. “Nhìn thấy Phật ắt tâm hồn sẽ hướng Phật, để các em vui chơi và sinh hoạt ở chùa giúp các em tránh sa vào các trò chơi không tốt sau giờ học và cũng là phương cách nuôi dưỡng tâm hồn hướng thiện, giúp các em có ích cho cộng đồng, trở thành người tốt khi trưởng thành”, thầy Minh Chính chia sẻ. Bỏ qua sự tĩnh lặng và uy nghiêm của một ngôi quốc tự, Thánh Duyên giờ đây gần gũi với người dân hơn bao giờ hết. Nó không xuất phát bởi vị trí nằm giữa xóm thôn hay là chốn viếng thăm quen thuộc của du khách thập phương mà bởi sự mở lòng vốn có của nhà Phật.

Bài viết có tham khảo Giới Hương (Phỏng dịch) (1994); Văn bia chùa Huế.

Theo Vinh Dự - Hoài Lương

Thành phố của những người cõi âm

Du Lịch Huế - Khu lăng mộ hoành tráng ở Huế đi ba ngày không hết và nếu không có người dẫn chắc chắn sẽ lạc đường.

Đi qua làng An Bằng (xã Vinh An, Phú Vang, Huế) theo đường tỉnh lộ 49 xuôi từ biển Thuận An về Phá Tam Giang, người ta dễ dàng bắt gặp những ngôi mộ được xây vô cùng cầu kỳ và tốn kém.



Từ đầu làng là những căn biệt thự đẹp đẽ nhưng bỏ hoang, rồi nở rộng ra đến tận sát ven biển là hàng trăm những ngôi mộ lớn nhỏ được xây màu sắc và bề thế. Các ngôi mộ được xây dựng theo nguyên mẫu của các lăng tẩm Huế được thu nhỏ, mức độ tinh xảo không hề thua kém.



Đi vào khu lăng mộ được gọi là “Thành phố ma” này không hề khiến bạn có cảm giác âm khí hay hoảng sợ khi vào nghĩa trang mà thấy tò mò bởi những thành quách, phù điêu, tượng phật được chạm khắc tỉ mỉ cùng màu sắc bắt mắt, rồng phượng quấn quanh xà cột cùng đủ loài tứ linh canh giữ.



Mỗi lăng mộ được xây một kiểu với số tiền tỷ, có những ngôi mộ lên đến 10 tỷ đồng. Khu lăng mộ này được người ta kháo nhau là đi ba ngày không hết và không có người dẫn chắc chắn sẽ lạc đường trong mê cung.



Người ta đổ ra hàng tỷ đồng để xây nên những ngôi mộ như thế này. Có thể là mộ của một người hoặc của một dòng tộc cùng tập trung lại.



"Cuộc sống trần gian chỉ là tạm bợ, chóng qua, còn cuộc sống bên kia thế giới mới là vĩnh cửu". – Lý giải này đã khiến người ta mỗi ngày một xây mộ to hơn ở An Bàng – vùng đất của những người dân chài với khá nhiều Việt kiều quay trở về xây dựng mộ trên quê hương bản quán.



Từ trên tháp chuông của nhà thờ An Bàng nhìn xuống toàn cảnh nghĩa trang trong làng.

Ngôi chùa nhỏ cuối làng nhìn ra biển khơi, nơi trước kia từng là một làng chài, nay là nghĩa trang khổng lồ cho những người con đất biển.

Theo bài và ảnh: Lam Linh

Kỳ thú hai chiếc cổng làng Dưỡng Mong - Huế

Du Lịch Huế - Tồn tại từ nhiều đời, trải qua mưa nắng, hai chiếc cổng làng Dưỡng Mong vẫn trầm mặc nằm đó, mang một chức năng đặc biệt và độc đáo: cổng “hạ mã”.

Cách thành phố Huế 7 km, bên hữu ngạn sông Như Ý, đình làng Dưỡng Mong (xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang, Thừa Thiên- Huế) vẫn giữ được vẻ uy nghiêm, trầm mặc. Dù các làng quê xung quanh giờ đã lên phố.



Cổng làng hướng Đông trông ra chợ quê

Cổng làng hướng Tây nhìn ra cánh đồng lúa xanh tốt

Trên con đường nhỏ đi qua trước đình làng, hiện nay vẫn còn lưu giữ hai chiếc cổng làng cổ, thấp và hẹp. Gần đây, trước ngôi đình, bên sông Như Ý đã có đường nhựa rộng lớn, để khách du lịch đi xe máy, ô tô dễ dàng đến tham quan.

Hai chiếc cổng ở làng Dưỡng Mong có ý nghĩa hết sức kỳ thú, độc đáo. Các bậc tiền bối khi xây dựng hai chiếc cổng thấp và hẹp này (cao 2 mét và rộng 1,5 mét) đã có chủ đích, bất cứ ai dù là vua, quan, khi đi ngang trước đình làng đều phải xuống ngựa, xuống xe...đi bộ. Ngược dòng lịch sử, bên sông Như Ý vốn có rất nhiều vương phủ của các ông hoàng, nhà chúa quyền cao, chức trọng, nhưng khi đi ngang đình làng Dưỡng Mong đều phải “hạ mã”, theo câu nói dân gian “phép vua thua lệ làng”.


Cổng làng xây thấp và hẹp theo chủ ý của các vị tiền bối trong làng


Ngôi đình cổ kính nằm chính giữa trung tâm, tính từ 2 cổng


Dân làng ra đình cúng đầu năm


Xưa đây là đường cái quan, trước đình làng mọi người phải xuống xe, ngựa đi bộ.

Ngày nay, trải qua năm tháng và chịu nhiều biến cố, thiên tai song hai chiếc cổng làng vẫn sừng sừng đứng đó, uy nghiêm và trầm mặc...

Theo Vũ Hào

Nhà vườn - nét đặc trưng của Huế

Du Lịch Huế - Kiến trúc nhà vườn truyền thống đã đem lại một không gian xanh đậm đà nét Huế. Sản phẩm du lịch “nhà vườn” là một thế mạnh không thể phủ nhận của du lịch cố đô.

KTS Hoàng Đạo Kính nhận xét: “Huế - một đô thị không gào thét; một đô thị khảm nạm vào thiên nhiên, và thiên nhiên vẫn còn ngự trị với vai trò chủ đạo…”. Đa số nhà vườn Huế tập trung nhiều ở nội thành và vùng phụ cận như các khu phố Gia Hội, Kim Long, Nguyệt Biều, Bao Vinh và Vĩ Dạ. Bởi lẽ, thời xưa đây là nơi các ông hoàng, bà chúa, các quan lớn xây dựng phủ đệ cho mình. Điển hình nhất là khu phủ đệ rộng lớn của các ông hoàng, bà chúa nằm ở khu phố cổ Gia Hội, tập trung tại các trục đường chính Chi Lăng - Bạch Đằng - Nguyễn Du - Nguyễn Chí Thanh.

Lối vào nhà trồng râm bụt hoặc chè tàu cắt xén cẩn thận.

Trải qua biết bao năm tháng, thời gian vẫn không làm phai mờ vẻ đẹp văn hóa-nghệ thuật, kết tinh thành vẻ đẹp kiến trúc nhuần nhị trên mỗi di tích nhà vườn. Nhìn chung, hầu hết kiến trúc nhà vườn Huế đều xây dựng theo quy luật “dịch lý” và “phong thủy”, bao gồm: Cổng, ngõ, bình phong, hòn non bộ, bể cạn, sân, nhà. Cổng thông thường được xây bằng gạch, lối vào được trồng những hàng râm bụt hoặc chè tàu ngày ngày cắt xén cẩn thận. Sau bình phong là bể cạn, hòn non bộ, hồ trồng sen, hoa súng và nuôi cá cảnh…

Trước nhà có bình phong, bể cạn, hòn non bộ…

Khách đến chơi phải đi qua một cổng ngõ thênh thang, thiết kế theo ý đồ gia chủ, băng qua một cái sân rộng lát gạch vồ, rồi mới đến mái hiên nhà. Xung quanh nhà trồng rất nhiều cây ăn trái, những loại hoa, quanh năm tươi tốt, mùa nào thức ấy. Trong khu vườn Huế, trồng nhiều loại cây lưu niên để cho bóng mát, quả chín bốn mùa. Không thiên hẳn về mục đích kinh tế, chủ nhân ở đây chỉ muốn bảo tồn một phong cách sống gần gụi với môi trường của con người. Ở phường Vỹ Dạ, đôi khi trong nhà vườn (đằng sau) còn có ngôi mộ của người đã có công tạo lập.



Trải qua bao năm tháng, vẻ đẹp kiến trúc của nhà vườn vẫn được lưu giữ. Ảnh: Lê Phú

Đứng trầm mặc giữa khu vườn tươi đẹp là ngôi nhà rường truyền thống. Nhà rường được làm bằng gỗ, kết cấu thay vì đóng đinh là kỹ thuật ghép mộng mực tinh xảo. Nhà rường có nhiều dạng, nhỏ thì một gian hai chái, ba gian hai chái, hoặc rộng lớn năm gian hai chái. Trong nhà thường trưng bày sập gụ, tủ chè, treo hoành phi, câu đối và rất nhiều đồ cổ.

Một góc nhà vườn Mộng Viên. Ảnh: Lê Phú

Sáng hay chiều, trong khu vườn đều ngập tràn tiếng chim hót líu lo, hương hoa ngát thơm giữa không gian tĩnh mịch, khiến cho lòng người thư thái, nhẹ nhàng. Mỗi khu vườn như vậy là một thế giới biệt lập, một không gian xanh toàn bích. Vào những ngày rằm, mồng một, sẵn có hoa trái trong vườn, chủ nhân hái để cúng Phật và tổ tiên. Nếu biết tằn tiện, ngôi vườn cũng đủ cung cấp thực phẩm nuôi sống chủ nhân, sống thanh thản không bon chen, và tạm đủ cho con cái ăn học. Cây lá hoa cỏ trong vườn cũng ẩn chứa những triết lý sống sâu sắc. Nhà nghiên cứu Phan Thuận An nhận xét: “Nhà vườn Huế là môi trường thích hợp nhất để bảo tồn thuần phong mỹ tục của dân tộc, đặc biệt là đạo lý truyền thống của gia đình. Không gian văn hóa nhà vườn Huế bảo lưu được những giá trị văn hóa vật thể và cả phi vật thể của từng gia đình và cộng đồng”.

Hiện nay nhà vườn vẫn còn nhiều ở các phường Kim Long, Gia Hội, Phú Hiệp, Vỹ Dạ, Phường Đúc, An Cựu, Bao Vinh, Nguyệt Biều... Theo thống kê sơ bộ, tại 25 phường, xã thuộc địa bàn thành phố Huế còn được 4.228 nhà vườn có diện tích từ 400 m2-600 m2 trở lên, trong đó còn 705 nhà rường và 186 nhà cổ thuộc diện quý hiếm...

Giờ đây đã qua rồi một thời nhà vườn Huế được ví von là “nơi trú ngụ của những tâm hồn xứ Huế, kín đáo, thanh tao và hồn hậu”. Từ năm 1976 đến những năm 1990, nhà vườn ở Huế bị biến dạng trầm trọng, do việc cắt đất trong khuôn viên chia chác, mua bán. Hậu quả nhãn tiền là sự biến mất hẳn phủ Diên Khánh vương (Vỹ Dạ), phủ An Phước quận vương và phủ Hoài Đức (Gia Hội), vườn Mai Viên của cụ Đào Tấn ở đường Nguyễn Du cũng cùng chung số phận. Sau khi báo chí và giới kiến trúc lên tiếng, từ năm 2006 trở lại đây, nhà vườn Huế đã hồi sinh, số lượng khách du lịch thăm nhà vườn cũng gia tăng đáng kể. Theo sau những đô thị phát triển theo chiều hướng hiện đại, sản phẩm du lịch nhà vườn đang là một thế mạnh không thể phủ nhận của du lịch Huế. Tiêu biểu như nhà vườn An Hiên ở Kim Long hay vườn nhà cụ Đô ở Gia Hội, nhà vườn công chúa Ngọc Sơn, nhà vườn Gia Hưng vương, nhà vườn phủ Vĩnh Quốc Công, nhà vườn Thường Lạc…

Theo Vũ Hào

Sunday, April 26, 2015

Trượt thác dưới chân núi Bạch Mã

Du Lịch Huế - Được vùng vẫy giữa làn nước trong vắt, nằm trượt trên máng nước tự nhiên, ăn uống trên những chòi tranh băng ngang khe suối, khám phá thế giới cây cỏ, chim muông...



Máng nước tự nhiên ở thác Trượt - Ảnh: Thái Lộc

Bạn sẽ có một ngày nghỉ sảng khoái khi đến thác Trượt (thôn Khe Su, xã Lộc Trì, huyện Phú Lộc, Thừa Thiên - Huế).

Từ TP Huế, lên xe máy theo quốc lộ 1 về hướng nam, khoảng 45 phút đã đến thị trấn Phú Lộc, tiếp tục rẽ phải đi tiếp 15 phút nữa là đến thác Trượt.

Trượt nước trong rừng

Ngọn thác Trượt nằm ngay trong vùng đệm vườn quốc gia Bạch Mã, dưới chân một dãy núi cao gần 1.500m, giữa vùng rừng rậm xanh tươi ngút ngàn. Một dãy chòi tranh dã chiến vây quanh hồ nước lớn nằm ngay giữa dòng suối là nơi khách nghỉ ngơi dừng chân, dọc khe suối cũng có mấy chòi tranh nằm sát mép nước. Chúng tôi chọn căn chòi có sàn gỗ chỉ cách mặt nước chưa đến hai gang tay để đóng quân rồi hồ hởi cởi bỏ đồ đạc, vùng vẫy bơi lặn trong hồ nước mát lạnh, trong suốt tận đáy.

Gọi là thác Trượt bởi giữa lòng thác có một tảng đá lớn, nơi dòng nước bào mòn thành một máng trượt tự nhiên. Lớp rêu mỏng bám trên đá lâu năm vừa tạo độ trơn cho máng, vừa làm chức năng mátxa cho những cái lưng trần lướt trượt bên trên... Từ trên cao, từng nhóm khách già trẻ lớn bé thích thú chờ đến lượt thả mình chảy theo dòng nước chảy ngoằn ngoèo rồi rơi “ùm” xuống hồ nước bên dưới trong tiếng reo vang của mọi người. Cảm giác mạo hiểm, lâng lâng, sảng khoái đến khó tả...

Chơi chán trò trượt thác, mọi người rủ nhau ngược dòng suối vào sâu trong rừng, thế giới của đá và rễ cây đầy hình thù. Trong những vũng nước lớn là hàng đàn cá đầy sắc màu, bơi mà như búng, thoắt ẩn thoắt hiện...

Cả giờ chinh phục con suối, cả nhóm thấm mệt. Trở lui về chòi, chủ quán cũng vừa dọn ra đĩa gà nướng lá chanh kèm theo xôi, lại thêm mấy vỉ cá suối nướng thơm phức... Đám trẻ ăn như tranh. Cô bạn vừa ăn vừa thò chân xuống vẫy nước trong sự thích thú. Thỏa cơn đói, mọi người lăn ra ngủ trong không khí trong lành, tiếng nước róc rách chảy bên dưới tạo cảm giác thật dễ chịu...

Thiên nhiên kỳ thú

Sau giấc ngủ trưa, cả nhóm chuẩn bị ngược lên đỉnh thác Thủy Điện ở đầu nguồn thác Trượt. Tên gọi Thủy Điện bắt đầu từ những năm cuối thập niên 1970, khi một nhà máy thủy điện mini được xây dựng để dẫn nước về chạy máy phát bên dưới. Nhà máy hết “sứ mệnh” vào đầu thập niên 1990 khi điện lưới quốc gia được kéo đến quanh vùng.

Đường lên đỉnh thác dốc lên dốc xuống quanh co, khi xuyên qua bụi cây gai um tùm, khi dốc dựng đứng, phải níu cây cỏ mới lần tới được đỉnh. Mọi người đi chậm do anh bạn mải mê ghi hình cỏ cây và các loài côn trùng bắt mắt đầy trên đường đi. Ngạc nhiên cũng phải, bởi vườn quốc gia Bạch Mã hiện có gần 900 loài côn trùng, trong đó đa dạng nhất là bộ cánh vảy với 310 loài. Đẹp nhất là thế giới của hàng chục loài bướm đủ màu sắc, rập rờn rực rỡ cả một góc rừng.

Nửa giờ xuyên rừng, vừa nghe tiếng thác nước rì rầm đổ xuống cũng là lúc thác Thủy Điện hiện ra trước mắt. Bao mệt mỏi tan biến khi quang cảnh thoáng rộng tuyệt đẹp mở rộng trước mắt.

Rời thác, chiều muộn về lại Huế, chúng tôi ghé một quán ăn ven chân đèo Mũi Né đoạn nhô ra đầm Cầu Hai. Các loại cá nước lợ như cá hanh, cá dìa, cá ong, cua đầm hay tôm đất của vùng đầm phá rất tươi có sẵn tại quán đủ hấp dẫn... để anh bạn lên kế hoạch với một tour “lên rừng xuống biển” vào tháng sau. Tour tương tự, chỉ khác là buổi chiều sẽ ghé biển Cảnh Dương gần cảng Chân Mây để đón hoàng hôn và ăn hải sản do người dân vừa mới đánh bắt...



Du khách nước ngoài khám phá đỉnh thác Thủy Điện - Ảnh: N.Hiển

Nhìn từ phía đông sườn núi, những ngọn núi xanh ngắt như uốn lượn trong đầm Cầu Hai trước khi vươn ra biển lớn. Gặp một nhóm khách Anh đang say sưa ngắm cảnh, hỏi ra mới biết họ lên đây từ sáng sớm, vào sâu trong rừng để “nghe... chim hót”. Một ông khách còn khoe ở vùng rừng núi này có đến hơn 330 loài chim, rất nhiều trong số đó có tiếng hót rất lạ!

Theo THÁI LỘC - NGỌC HIỂN

Khám phá cồn Hến

Du Lịch Huế - Cồn Hến là một hòn đảo nhỏ trên sông Hương đoạn chảy qua thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Cồn Hến được hình thành bởi sự bồi lấp của đất và phù sa. Sông Hương đoạn chảy qua Kinh thành Huế lên phía bắc, về hạ lưu ra biển chia làm hai nhánh, với Cồn Hến ở giữa. Nhánh bên trái chảy qua địa phận các phường Phú Cát, Phú Hiệp, nhánh bên phải chảy qua phường Vỹ Dạ.

Cồn Hến có hình dài theo hướng bắc – nam, gần như chính giữa dòng sông, trùng với đường phân thuỷ. Khởi nguồn chỉ là bãi đất bồi, qua thời gian, Cồn Hến trở thành một hòn đảo, một vùng đất cao, với diện tích 26,4ha.

Toàn cảnh cồn Hến nhìn từ cầu Chợ Dinh ở phía bắc, như một viên ngọc xanh giữa dòng sông Hương.



Một góc Cồn Hến nhìn từ hướng đông nam, phía Đập Đá - Vỹ Dạ.



Cầu Phú Lưu, còn gọi là cầu Cồn - cây cầu nhỏ duy nhất dẫn vào Cồn Hến từ đường Nguyễn Sinh Cung, phường Vỹ Dạ. Cây cầu này được xây dựng trước năm 1975 và đã trải qua nhiều lần trùng tu. Cầu rộng 3m và không dành cho ô tô.



Qua cầu Cồn là thẳng tới con đường chính và là con đường duy nhất trên cồn có tên: Ưng Bình. Ưng Bình (1877-1961) là một danh sỹ cuối thời Nguyễn, cũng là một nhà thơ tiền chiến. Ưng Bình tên đầy đủ là Nguyễn Phúc Ưng Bình, là hoàng thân nhà Nguyễn và được sinh ra tại Vỹ Dạ.



Đường Ưng Bình như một xương sống giao thông chia đôi Cồn Hến theo chiều ngang. Các con đường nhỏ khác rất dài theo chiều dọc cồn là các kiệt (ngõ) nối với trục đường chính Ưng Bình



Cuối đường Ưng Bình là một bến đò ngang, đò đi về giữa Cồn Hến và khu phố cổ Chi Lăng ở bờ bắc sông Hương, phía Kinh Thành



Nơi đây cũng là một bến nước từ xưa, bây giờ người dân vẫn ra đây giặt giũ.
Sử sách không ghi chép Cồn Hến xuất hiện trên sông Hương từ bao giờ. Theo một số tài liệu như Văn sở tế thần và địa bạ các ấp viết về Cồn Hến thì ban đầu, Cồn Hến có tên là “xứ cồn cạn” do hai khe nước ở giữa cồn bị bồi lấp cạn dần, nhiều loài cá tôm đến đây sinh sống. Ban đêm nhiều người tới đây đánh bắt, đốt đèn đuốc soi sáng cả một vùng nên cồn được gọi là Cồn Soi.

Cũng bởi sự hình thành cồn do bồi lấp mà về sau, quần cư ở đây đã lập nên làng có tên là Bồi Thành. Thời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1725-1738) xây dựng phủ chúa ở Phú Xuân, ông Huỳnh Tương (người xã Diên Đại, Phú Vang, Thừa Thiên) được coi là người đầu tiên đến dựng chòi định cư và làm nghề cào hến. Đến đầu niên hiệu vua Gia Long (1802-1820), phường Giang Hến, thuộc xã Phú Xuân ra đời trên “xứ cồn cạn”. Cái tên Cồn Hến bắt đầu từ đó.



Mặc dù có diện tích không lớn, nhưng trên Cồn Hến có khá nhiều công trình tâm linh – tín ngưỡng. Kiến trúc này là đình làng Bồi Thành, làng xưa ở Cồn Hến, thuộc xã Hương Lưu, TP Huế.



Chùa Pháp Hải ở phía đông Cồn Hến gần lối vào từ cầu Phú Lưu, còn gọi là chùa Thầy.

Niệm Phật Đường Hương Lưu, ở phía tây sát bờ cồn còn gọi là chùa Cô.



Nhà thờ giáo xứ Tân Thuỷ. Giáo xứ Tân Thuỷ (Cồn Hến) thuộc Tổng giáo phận Huế, được thành lập từ năm 1896. Kiến trúc Nhà thờ Tân Thuỷ hiện nay được xây dựng năm 2002. Ở Cồn Hến có khoảng hơn 300 giáo dân.

Khi vua Gia Long khởi dựng Kinh thành Phú Xuân mới (1805), theo thuật phong thuỷ, Cồn Hến được lựa chọn là yếu tố Thanh Long - nằm bên trái, trước Kinh thành (cùng với cồn Dã Viên là yếu tố Bạch Hổ, nằm bên phải). Cũng trong việc xây dựng Kinh thành, 8 xã thuộc phạm vi quy hoạch đã phải di dời. Cồn Hến là nơi tái định cư của dân xã Phú Xuân. Và cộng đồng dân cư Cồn Hến đông thêm, “xứ cồn cạn” này trở thành một đảo nhỏ trù phú.

Nghề cào hến và chế biến hến được truyền - nối và phát triển, trong một thời gian dài là nghề chính của cư dân cồn Hến. Nhưng nghề hến đang mai một dần. Một trong những nguyên nhân là hến ở khu vực cồn cũng như nhiều vùng lân cận ở sông Hương không còn nữa, do nạn khai thác cát trái phép làm ảnh hưởng đến địa chất, thuỷ văn và môi sinh…khiến cho hến cùng nhiều loài thuỷ sinh dần thưa vắng, rồi cạn kiệt…Một số người, một số gia đình vẫn giữ nghề phải đi mua gom hến từ nhiều nơi khác, có khi rất xa.



Trên hòn đảo nhỏ này có một trường tiểu học tên là Phú Lưu, nằm ngay đầu đường Ưng Bình phía cầu thuộc địa bàn phường Vỹ Dạ. Giờ tan học của các em là lúc Cồn Hến tấp nập nhất.



Học sinh trường Phú Lưu hầu hết là ở Cồn Hến, nên các em tự đi - về trên những con đường vắng bóng xe cộ, rất bình an. Ở cồn, loại cây được trồng nhiều nhất là chuối và ngô. Hai loại cây này thích hợp với đất bồi phù sa của sông.

Cồn Hến cũng nổi tiếng bởi bắp (ngô) ngon. Ngô trồng đất cồn ngon hơn ngô nơi khác ở Huế. Cồn Hến là một “đảo ẩm thực” với các món đặc sản liên quan đến hến, tiêu biểu là món cơm hến, các loại món từ bắp trồng trên cồn – tiêu biểu là món chè bắp, cùng với các loại bánh khác…Rất nhiều món ẩm thực ở các nhà hàng, quán rong xuất phát từ nơi đây.

Hiện nay, Cồn Hến là khu vực dân cư tổ 6A và 6B, với khoảng 700 hộ dân, gần 5000 nhân khẩu thuộc phường Vỹ Dạ, thành phố Huế.

Năm 2009, UBND thành phố Huế đề xuất tỉnh Thừa Thiên Huế cho phép lập quy hoạch chi tiết xây dựng Cồn Hến thành khu du lịch nghỉ dưỡng cao cấp. Hiện dự án vấn đang trong tiến trình phê duyệt quy hoạch và kêu gọi đầu tư. Có lẽ, trong tương lai, Cồn Hến sẽ khác xa bây giờ…

Nhưng một Cồn Hến - ốc đảo bình yên với ngút ngàn màu xanh trên dòng Hương Giang sẽ còn mãi trong ký ức...



Cuộc sống ở đây bình yên và trôi thật chậm

Một cơ sở dịch vụ - kinh doanh ngay mặt phố chính, rất đơn sơ và vắng vẻ.



Phút nghỉ ngơi của người bán chuối rong

Ngô được dùng cho nhiều món ẩm thực. Người phụ nữ này đang nạo ngô để làm chè bắp.



Lò hến. Đây là công cụ cho công đoạn chế biến hến quan trọng nhất, để đun tách riêng vỏ hến và thân (ruột) hến. Ruột hến dùng để chế biến nhiều món đặc sản xứ Huế, phổ biến nhất là món cơm hến. Nghề hến ở Cồn Hến đang mai một vì xưa cả làng đánh bắt và làm nghề hến, giờ Cồn Hến chỉ còn vài ba lò, và hến phải đi mua gom ở nhiều nơi.

Một không xanh, yên ả, thanh bình

Theo CTV Hà Thành

Khu du lịch Thanh Tân - điểm nghỉ dưỡng 4 mùa

Du Lịch Huế - Nếu như phía Nam của Thừa Thiên Huế có Lăng Cô, Chân Mây, Bạch Mã… thì Khu du lịch Thanh Tân ở phía Bắc là một trong những điểm vệ tinh du lịch làm cho bức tranh tổng thể về du lịch của Huế thêm hoàn thiện.



Nằm cách thành phố Huế khoảng 30km về phía Tây Bắc, trên quốc lộ 1A đoạn ở đầu cầu An Lỗ rẽ vào tay trái, đi thêm 12km nữa theo dọc con đường nhựa sẽ dẫn bạn đến khu du lịch Thanh Tân. Suối nước khoáng Thanh Tân là nguồn nước khoáng nằm sâu hàng nghìn mét dưới lòng đất và xuất lộ trên đỉnh đồi ở nhiệt độ hơn 60 độ C, hàm chứa Calcium Sunfat và Silicium…, tốt cho cơ thể.



Khu du lịch nghỉ dưỡng Thanh Tân thuộc xã Phong Sơn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế được đầu tư xây dựng, trên diện tích 50ha, bên cạnh những dãy núi cao ngất là những quả đồi được tạo hóa sắp xếp liền kề. Màu xanh của núi rừng, cây cỏ đã tạo cho du khách khi đến với KDL này một cảm giác thư thái, dễ chịu ngay từ phút đầu tiên. Phong cảnh thanh bình giữa bạt ngàn cây lá và những ngọn núi nối tiếp cận kề nhau san sát. Thấp thoáng những mái nhà tranh ngói đủ màu khoe sắc, một không gian bình yên trầm lặng ở một miền sơn thủy hữu tình tạo cho du khách một cảm giác thanh thản tâm hồn đến lạ thường.



Thiên nhiên đã ban tặng cho nơi đây một món quà vô giá đó là những dòng nước khoáng nóng chứa rất nhiều vi lượng có ích đối với sức khỏe. Nhiệt độ trong lòng suối phun trào từ lòng đất mà theo như các nhà địa chất học, y học, đo được gần 70 độ C này, có thể luộc chín những quả trứng gà và các bạn có thể thưởng thức ngay tại chỗ mà không cần phải nồi niêu soong chảo làm gì.

Sát chân núi có dòng suối tự nhiên đẹp như tranh, có con đường uốn lượn. Ðây là vùng trồng cây ăn quả, cây lấy dầu. Khu trung tâm giữa rừng cây xanh là nơi ngâm tắm nước khoáng nóng. Du khách có thể chọn cho mình một trong những điểm ngâm tắm ngoài trời phù hợp, được vẫy vùng trong dòng suối ấm áp đang tỏa hơi mờ mịt hay trong suối nước khoáng tinh khiết lượn quanh đồi với nhiệt độ từ 35-42 độ C, trong hệ thống hồ đa dạng như hồ đôi, hồ gia đình, hồ bơi tạo sóng biển….



Điểm khác biệt và cũng là điểm nhấn của khu du lịch này so với các khu du lịch sinh thái khác là du khách có thể tìm đến Thanh Tân bất kì mùa nào trong năm. Vào những ngày mùa hè nắng nóng, du khách có thể thả mình theo dòng nước mát với trò chơi trượt thác chui ống, tắm biển nhân tạo, hồ phun nước… Còn trong tiết trời se se lạnh của mùa thu, nước khoáng nóng Thanh Tân chắc chắn trở thành điểm du lịch lý tưởng, nhất là với du khách miền Trung, vốn không quen với tiết trời lạnh.

Trên hồ tắm có hệ thống nhà nghỉ được xây dựng bằng nhà tranh, nhà xây kiên cố phục vụ theo nhu cầu của du khách. Sau khi ngâm tắm xong, du khách có nhu cầu thì được tham gia chương trình luyện tập thể dục dưỡng sinh, thể dục dụng cụ, xông hơi nước khoáng... hết sức hấp dẫn. Một hệ thống nhà bếp phục vụ nhu cầu ẩm thực ngay tại chỗ cũng như dài ngày cho du khách có nhu cầu ở lại nghỉ ngơi và điều dưỡng.



Để đáp ứng nhu cầu giải trí cho khách du lịch, Thanh Tân đã có những dịch vụ rất hấp dẫn như: giao lưu giữa ánh lửa trại, dịch vụ massage, karaoke, cho thuê xe đạp rong ruổi… Mỗi một mùa, Thanh Tân đều có những dịch vụ giải trí thích hợp để đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi của du khách.

Thanh Tân không chỉ hấp dẫn với những hồ tắm mà nét đẹp hoang sơ, rừng, núi và suối mà còn có nhiều loài hoa quý hiếm, đặc biệt là lan. Ở đây có giống lan Phong Sơn với màu tím nhạt gây thích thú cho người thưởng ngoạn. Đây là giống lan lạ, như một cô gái đỏng đảnh với đặc tính thức trưa, ngủ muộn theo mùa.

Khu du lịch nước khoáng Thanh Tân còn có một sân chơi rộng rãi để đốt lửa trại hoặc tổ chức văn nghệ vào những buổi dã ngoại ban đêm. Sau nhiều giờ ngâm tắm, bụng đói cồn cào, bạn sẽ ngon miệng hơn với đĩa cá rô nuôi bằng nước khoáng, chiên ròn thơm phức trong những lều tranh xinh xắn bên hồ sen ngát hương. Ngoài ra, đến đây bạn còn được thưởng thức đặc sản với đủ loại từ hải thủy sản và đầy đủ bánh trái mang hương vị đậm đà xứ Huế .

Bốn mùa xuân – hạ – thu – đông, khu sinh thái nghỉ dưỡng Thanh Tân lúc nào cũng tấp nập khách. Khách gần cũng như khách xa, già trẻ lớn bé đều có cả… Họ đến đây để ngâm mình trong dòng suối nước nóng đầy đủ những khoáng chất tự nhiên dâng trào lên từ lòng đất, dưới dãy núi già Trường Sơn thăm thẳm ngút ngàn cây lá. Có thể nói Khu du lịch Thanh Tân đang ngày càng tạo ra một sự khác biệt rõ nét trong mô hình du lịch sinh thái trên dải đất miền Trung.

Theo Khánh Chi

Sảng khoái với thác Trượt

Du Lịch Huế - Do có tảng đá lớn được bào mòn một cách tự nhiên, thuận tiện cho trò chơi trượt nước nên người dân địa phương đặt tên nơi đây là thác Trượt. Thác thuộc địa bàn xã Lộc Trì, huyện Phú Lộc.

Từ TP Huế đi xe máy khoảng 1 giờ đồng hồ, theo đường bê tông vào Vườn Quốc gia Bạch Mã, sau đó rẽ trái men theo con đường nhỏ vào thủy điện cũ sẽ thấy bảng hướng dẫn vào thác Trượt. Khu vực này được người dân địa phương đưa vào khai thác, phục vụ du lịch vài năm trở lại đây. Hai bên thác là những chiếc chòi lá, hàng quán thuận tiện cho khách nghỉ ngơi, ăn uống. Nếu suối Voi có những vụng nước rộng, sâu, thích hợp với hoạt động ngâm tắm thì thác Trượt có lợi thế về trò trượt nước nhờ tảng đá lớn có độ dốc vừa phải.

Nước từ đầu nguồn chảy về bào mòn đá và phủ lên lớp rêu nên chỉ cần một miếng ni lông nhỏ hoặc tấm nhựa mỏng, khách tha hồ chơi trượt nước. Phía dưới máng trượt tự nhiên này là vũng nước cạn, người lớn và trẻ em đều thấy an toàn khi đáp xuống điểm rơi cuối cùng của thác trượt. Đến khám phá thác có cả người ngoại tỉnh lẫn khách nước ngoài. Chị Hoài Tâm cùng gia đình ở Đà Nẵng đến thác tắm cho biết: “Mình có nhà người quen ở Phú Lộc nên tranh thủ ngày nghỉ cho cả nhà ra chơi. Bọn nhỏ trượt từ sáng đến chiều mà không chán bởi kết cấu đá ở đây khá lạ, lại an toàn cho trẻ nhỏ so với các điểm tắm khác”.

Những ngày hè này, thác Trượt đón nhiều đoàn khách đi bằng ô tô, xe máy. Trong tiếng nước chảy róc rách vẫn vang lên tiếng reo hò phấn khích của người lớn lẫn trẻ em. Mọi người thường chơi bằng cách ngồi xếp hàng thứ tự từ trước đến sau rồi đồng loạt xuất phát. Chơi chán, bạn có thể đi lên ngược dòng vài trăm mét để khám phá thác Đá dựng, rừng tự nhiên và suối nước ở thượng nguồn…

Thác Trượt có các món đặc sản là cá suối, ếch nướng và gà ta. Tuy nhiên, nhiều gia đình đến đây vẫn mang theo một số đồ ăn sẵn và trái cây để làm phong phú thêm thực đơn sau khi chơi, tắm thỏa thuê. Nếu cần một không gian khám phá, vui chơi vừa lạ lẫm, vừa thích thú, hãy chọn một ngày đẹp trời và thẳng tiến về thác Trượt.
Theo L. Tuệ

Đến Thác Mơ (Huế) để... tránh nóng

Du Lịch Huế - Huế đang bước vào những ngày oi nồng của mùa hè. Để thư giãn trong thời tiết nắng nóng, có lẽ không ở đâu thú vị bằng du lịch biển và suối. Trong rất nhiều điểm du lịch sinh thái ở Huế để du khách lựa chọn thì khu du lịch sinh thái thác Mơ huyện Nam Đông là một sự lựa chọn lý tưởng.

Nếu ở vùng đồng bằng Huế đang là những ngày nắng nóng thì không khí ở huyện miền núi Nam Đông thời tiết lại mát mẻ. Thác Mơ đón những con nước bắt nguồn từ núi rừng Bạch Mã cao hơn 1.400 mét so với mực nước biển đổ về thì càng mát mẻ hơn.

Để đến thác Mơ (thị trấn Lăng Cô - Phú Lộc - TT Huế) có thể đi theo 2 hướng: từ TP. Huế đi về chừng 65km, hoặc từ Đà Nẵng ra khoảng 40 km, đến điểm đầu và điểm cuối đường Trịnh Tố Tâm, rẽ vào địa phận thôn An Cư Tây, thẳng vào đường Hói Mít chừng 7km sẽ bắt gặp không gian xanh mở ra bằng những cây rừng nguyên sinh hùng vĩ, đó là du khách đã đến thác Mơ.

Thác Mơ được người dân địa phương và quanh vùng biết đến khá lâu bởi cảnh sắc thiên nhiên tuyệt đẹp với những cánh rừng xanh ngát bao phủ soi mình dưới làn nước trong veo, mát lạnh. Nằm trên trục đường mòn chính dẫn lên các dãy núi địa phương và xa hơn là dãy núi Bạch Mã kéo dài trùng điệp, thác Mơ như một điểm nhấn giữa vẻ đẹp ngút ngàn, hùng vĩ của núi rừng xứ Huế.

Ấn tượng với du khách là hồ nước rộng lớn, xanh ngắt, đánh dấu điểm cuối cùng của 3 ngọn thác bắt nguồn từ núi cao. Được thiên nhiên ban tặng 3 vũng nước lớn khá sâu, rộng trên dưới cả 100m2 mỗi vũng, đủ để phục vụ tất cả các du khách muốn ngâm mình trong dòng nước mát lành. Ấn tượng nhất là phía đầu nguồn, một tảng đá lớn cao ngất hiện ra hoà cùng tiếng nước ầm ầm đỗ về các hồ bên dưới. Có người bảo, đó là “khúc nhạc núi rừng”, là tiếng thác, tiếng gió hòa trong tiếng chim muông và là “tiếng” đặc trưng của thác Mơ.



Trước đây Thác Mơ chưa được đầu tư nên việc đi lại rất khó khăn, chủ yếu dựa vào đường thuỷ và đường bộ men theo đường xe lửa xuất phát từ cầu Lăng Cô vào. Để lên thác, du khách phải đi bộ chừng 2km. Tuy nhiên trong những năm gần đây, KDL sinh thái Thác Mơ đã được đầu tư đưa vào khai thác để đón khách trong mùa du lịch hè. Đường đi vào thác đã được nới rộng thêm, xe mô tô đã có thể vào được đến nơi, giúp giảm bớt sự vất vả của du khách.

Thác Mơ càng đẹp hơn bởi gần 20 chòi tranh nứa mọc san sát, thiết kế theo địa hình cao thấp trên các tảng đá to nhỏ khác nhau. Giữa hai bên bờ là những chiếc cầu tre nhỏ được dựng lên, vừa là điểm chụp ảnh, ngắm cảnh lý tưởng, vừa tạo cho du khách như lạc vào một khung cảnh thật hoang sơ, bình dị.

Với không gian tự nhiên rất đẹp, môi trường sinh thái trong lành, giao thông đi lại thuận tiện, Thác Mơ bây giờ không chỉ thu hút khách địa phương mà còn thu hút một lượng khách khá lớn các bạn trẻ ở Huế, Đà Nẵng thích khám phá cảm giác mạnh. Ngay những người ở Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh vào công tác ở Huế cũng không thể làm ngơ trước vẻ đẹp thiên nhiên của con thác này.

Theo Bảo Anh

Saturday, April 25, 2015

Khám phá kiến trúc “độc” của đàn tế cổ ở Huế

Du Lịch Huế - Đàn Nam Giao triều Nguyễn là đàn tế duy nhất còn hiện hữu ở Việt Nam, cũng là đàn tế duy nhất tồn tại trong số nhiều đàn tế cổ ở Huế.

Trong quần thể di tích Cố đô Huế có tất cả 5 đàn tế bao gồm: Đàn Nam Giao, Đàn Sơn Xuyên, Đàn Xã Tắc, Đàn Tiên Nông, Đàn Tịch Điền. Kiến trúc các đàn tế này khá độc đáo còn được ghi chép trong một số tài liệu cũ.
Kiến trúc theo thuyết Tam tài của Đàn Nam Giao

Đàn Nam Giao triều Nguyễn là nơi các vua nhà Nguyễn tổ chức lễ tế trời đất vào mùa xuân hàng năm, thuộc địa phận phường Trường An, thành phố Huế. Đây là đàn tế duy nhất còn hiện hữu (dù không còn nguyên vẹn) ở Việt Nam, cũng là đàn tế duy nhất còn tồn tại trong số nhiều đàn tế cổ ở Huế. Đàn Nam Giao đã được nhà Nguyễn khởi công xây dựng vào ngày 25/3/1806. Sau khi hoàn thành, vua Gia Long lần đầu tiên tổ chức lễ tế Giao tại đây vào ngày 27/3/1807.



Đàn Nam Giao triều Nguyễn. Ảnh: Wikipedia.Đàn Nam Giao triều Nguyễn là một tổ hợp các công trình kiến trúc gồm Giao đàn, Trai cung, Thần trù và Thần khố trong khuôn viên hình chữ nhật có diện tích đến 10ha. Trung tâm của khuôn viên đàn Nam Giao là Giao đàn, hướng về phía Nam, gồm 3 tầng:
Tầng trên cùng là Viên đàn, xây hình tròn, tượng trưng cho Trời. Đàn có đường kính 40,5m, cao 2,8m; xung quanh xây lan can cao hơn 0,8m, dày 0,3m, quét sơn màu xanh. Mặt đàn lát gạch và đặt sẵn 28 viên đá tảng chân cột để mỗi khi tế sẽ dùng một tòa nhà che bằng vải màu xanh (được gọi là Thanh ốc) lên trên. Từ năm 1846 trở đi tòa nhà này được gọi là Hoàng khung vũ. Bốn mặt Viên đàn có thềm, thềm phía nam 15 bậc, ba mặt còn lại đều 9 bậc. Đây là nơi diễn ra các hoạt động lễ nghi chính trong lễ tế Nam Giao.

Một phần bề mặt Viên đàn. Ảnh: WikipediaTầng giữa là Phương đàn hay còn gọi là Tùng đàn, xây hình vuông, tượng trưng cho Đất. Đàn có cạnh dài 83m, cao 1,1m; xung quanh xây lan can, cao 0.9m, dày 0,3m, quét sơn màu vàng. Khi tế Giao, người ta dựng một tòa nhà che vải vàng (gọi là Hoàng ốc). Bốn mặt Phương đàn có thềm, đều 5 bậc. Đàn này, dưới thời Nguyễn, là nơi tế thần Mặt Trời, Mặt Trăng, Tinh Tú, Mây, Mưa, Gió, Sấm, Năm và Tháng, Núi, Biển, Sông, Đầm Phá, các vị thần núi ở các sơn lăng các vua nhà Nguyễn, thần giữ lăng tẩm và phần mộ cùng tất cả các vị thần trong toàn quốc.
Tầng dưới cùng xây hình vuông, tượng trưng cho Người. Đàn có cạnh dài 165m, cao 0,84m; xung quanh xây lan can cao 0,93m, dày 0,3m và quét sơn màu đỏ. Mặt trước đàn có xây hai hàng đá tảng, mỗi hàng 6 tảng để cắm tàn. Góc Đông Nam đàn có xây một cái bệ gọi là lò "phần sài", là nơi đốt con sinh để tế. Ở góc Tây Bắc đào một cái lỗ để chôn lông và huyết của con sinh, gọi là huyệt "ế mao huyết". Bốn mặt đàn này có thềm, đều 4 bậc.
Có thể thấy kiến trúc đàn Nam Giao triều Nguyễn tuân thủ chặt chẽ theo thuyết Tam tài cũng như quan niệm "Trời tròn Đất vuông". Đàn Nam Giao gồm ba tầng xây chồng lên nhau với các dạng thức và màu sắc khác biệt. Trời tròn biểu hiện bằng Viên đàn với lan can quét vôi màu xanh ("thiên thanh": trời xanh). Đất vuông biểu hiện bằng Phương đàn với lan can quét vôi màu vàng ("địa hoàng": đất vàng). Tầng dưới cùng cũng hình vuông, lan can quét vôi màu đỏ biểu hiện cho Người ("xích tử": con đỏ).
Trời-Đất-Người (tức "Tam tài": Thiên-Địa-Nhân) được thể hiện trong mối quan hệ vừa có tính tách biệt tương đối, vừa thống nhất tuyệt đối. Đặc biệt, yếu tố Con Người được thể hiện rất rõ ràng và khá bình đẳng với tất cả Trời Đất và các vị thần linh. Nhà nghiên cứu Phan Thanh Hải cho rằng "đây chính là đỉnh cao tư tưởng thái hòa của Việt Nam dưới thời Nguyễn".
Nét huy hoàng xưa của đàn Xã Tắc
Đàn Xã Tắc ở Huế được xây dựng thời Gia Long nằm tại phường Thuận Hòa, thành nội Huế. Năm 1806, nhà Vua đã hạ lệnh cho tất cả các dinh trấn trong cả nước gửi đất tinh sạch về để dựng đàn, tượng trưng cho đất đai của cả đất nước. Diện mạo của Đàn Xã Tắc, nằm lộ thiên quay mặt về hướng Bắc. Quy mô đàn tế tương đối lớn, gồm hai tầng:



Đàn xã tắc trong ảnh xưa. Ảnh tư liệuTầng trên cao 1,6m, hình vuông mỗi cạnh dài 30m, được làm bằng gạch vồ dày 0,8m đất của đàn được thu từ mọi miền trong cả nước, gồm 12 lớp đất đá sỏi… mỗi lớp dày khoảng 15cm, quanh tầng có hệ thống lan can, trỗ 4 cửa thông ra 4 hướng với các bậc thang lên xuống tầng dưới.



Đàn trong quá trình phục dựng. Ảnh: Internet.Tầng dưới cao 1,23m, mỗi cạnh dài 74m, nền tầng nay được đầm từ 6 loại đất khác nhau theo chiều ngang, tầng này cũng có lan can cao khoảng 90cm và 4 tầng tam cấp ở 4 hướng như tầng trên.
Xung quanh đàn còn có bia “Thái Xã Chi Thần” và một hồ nước rộng là minh đường, có tường thấp và trổ 3 cửa ra 3 hướng Đông-Tây-Bắc.



Một lễ tế được phục dựng lại. Ảnh: Internet.

Sau khi Vua Bảo Đại thoái vị vào năm 1945 cũng như bao công trình khác của triều đại, đàn Xã Tắc mất đi chức năng của mình, đàn bị sử dụng sai mục đích vốn có, bị người dân trưng dụng làm nhà ở. Sau năm 1975 thì đàn hoàn toàn biến mất và chỉ còn lại tấm bia “Thái Xã Chi Thần”.
Hiện nay, đàn đã được phục dựng trở lại và hàng năm đã tổ chức lễ tế Xã Tắc với quy mô lớn.
Những đàn tế chỉ còn trong thư tịch cổ

Đàn Sơn Xuyên được xây dựng dưới thời nhà Nguyễn, là nơi cúng tế toàn bộ thần núi, thần sông của đất Thừa Thiên xưa. Đàn được xây dựng vào năm 1852, thời vua Tự Đức. Việc xây dựng đàn được triều Nguyễn giao Bộ Công trực tiếp phụ trách. Di tích này được dựng theo khuôn mẫu của đàn Xã Tắc.

Toàn cảnh đàn Sơn Xuyên (ảnh phối cảnh) theo tư liệu cũ năm 1925.Theo Quốc Sử Quán, kiến trúc của Đàn Sơn Xuyên rất giống với đàn Nam Giao và đàn Xã Tắc vì đàn Sơn Xuyên hiện nay vẫn còn giữ những cấu trúc cơ bản, nhất là tầng trên. Cả hai tầng của đàn Sơn Xuyên vốn đều được xây bó quanh bằng gạch vồ và đá núi, giữa đổ đất nện chặt. Tầng trên cao hơn 1m, mỗi cạnh rộng khoảng 22m; tầng dưới cao gần 0,5m, mỗi cạnh dài khoảng 45m. Kích thước tuy nhỏ hơn nhưng về tỉ lệ giữa các tầng đàn thì khá giống đàn Xã Tắc. Đàn Sơn Xuyên được xem là khuôn mẫu tốt để nghiên cứu phục hồi đàn Xã Tắc.
Đàn Sơn Xuyên hiện nay nằm trong khuôn viên Trường tiểu học Phường Đúc (245 Bùi Thị Xuân, thành phố Huế). Đàn hiện nay đang bị hủy hoại, nó chỉ còn lại một phần nhờ vào sự bảo vệ tự phát của thầy cô trường tiểu học Phường Đúc.

Ngoài ra, hai đàn tế Tiên Nông và Tịch Điền ở kinh thành Huế chỉ còn lại hình ảnh trong thư tịch cổ. Hai đàn tế cổ này hiện nay đã biến mất và chìm sâu vào lòng đất. Khả năng phục dựng lại các đàn tế cổ này là không thể, nó chỉ còn là hình ảnh dùng để làm tư liệu, vị trí chính xác của đàn hiện nay các nhà khảo cổ vẫn chưa tìm ra.